Thứ Tư, 8 tháng 4, 2015

Nông dân và nỗi lo chứng nhận phân bón giả.

CHỨNG NHẬN VIETGAP TRỒNG TRỌT THỦY SẢN Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không có sản xuất phân bón nhưng ông Ơn vẫn thuê người đóng gói sản xuất phân bón tại Tiền Giang


I. Khảo nghiệm phân bón vô cơ Còn muốn được chứng nhận là phân bón mới thì phải qua 2 năm khảo nghiệm cùng mức phí là 30 triệu đồng


Người sử dụng đang rơi vào một ma trận” phân bón hữu cơ với đủ các loại tên gọi, thương hiệu, công thức… của các công ty sản xuất trong và ngoài nước với giá thành cũng rất khác nhau. Những công dụng, xuất xứ, công nghệ sản xuất, nguyên liệu của các loại phân bón hữu cơ chế biến cũng đang được các nhà sản xuất, nhà phân phối tiếp thị cũng rất phong phú. Vì vậy bà con cần tỉnh táo, lựa chọn những sản phẩm uy tín, chất lượng, công dụng đúng với thành phần để đảm bảo hiệu quả trong sản xuất.Thành phần chung nhất của các loại phân bón hữu cơ là hàm lượng chất hữu cơ. Ngoài ra, tùy thuộc vào từng loại phân bón hữu cơ khác nhau mà nhà sản xuất còn bổ sung thêm đạm, lân, kali, các chất trung vi lượng và vi sinh vật. Bón phân hữu cơ cho cây trồng là cung cấp chất hữu cơ cho đất. Đất được bổ sung chất hữu cơ có kết cấu tơi xốp thuận lợi cho bộ rễ phát triển và hút được nhiều phân bón NPK, qua đó làm tăng hiệu suất sử dụng phân bón cho cây, giảm được phân bón vô cơ. Đất được bổ sung chất hữu cơ sẽ có khả năng giữ nước, giữ phân bón tốt hơn, giảm sự thất thoát phân bón do bay hơi hoặc rửa trôi, từ đó cũng góp phần làm giảm lượng phân bón NPK. Chất hữu cơ trong đất sẽ được chuyển hóa thành mùn và yếu tố này có ảnh hưởng lớn tới độ phì nhiêu của đất, sức khỏe của đất, tính chất sinh-lý-hóa của đất. Vì vậy cũng có thể nói, bón phân hữu cơ góp phần bảo vệ đất và tăng sức sản xuất của đất.Lựa chọn phân bón hữu cơ như thế nào cho tốt? Hiện nay có một số loại phân bón hữu cơ cao cấp, ngoài tác dụng chính là cung cấp chất hữu cơ cho đất, nó còn có một số công dụng nổi trội khác mà các loại phân bón hữu cơ khác không có. Một sản phẩm phân bón hữu cơ có tính đột phá về công nghệ và công dụng là phân bón hữu cơ vi sinh NaSa Smart của NM Phân bón Năm Sao. NaSa Smart được sản xuất bằng công nghệ và các chủng vi sinh vật ngoại nhập từ Nhật Bản và Đài Loan. NaSa Smart có tác dụng cải tạo đất nhờ có chứa hàm lượng chất hữu đậm đặc. NaSa Smart cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng đa lượng và trung vi lượng thiết yếu. Các chủng vi sinh vật đối kháng trong NaSa Smart sẽ ngăn ngừa được một số tác nhân gây bệnh cho cây trồng. Vi sinh vật phân giải chất hữu cơ sẽ hạn chế hiện tượng ngộ độc chất hữu cơ cho cây. Các chủng vi sinh vật chức năng cố định đạm, phân giải lân, phân giải kali sẽ giúp giảm được 10-15% lượng phân bón NPK cho nông dân, qua đó giảm chi phí phân bón và bảo vệ môi trường. Sản phẩm này đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới và đang là xu hướng mới trong ngành sản xuất phân bón hữu cơ tại Việt Nam.Đối với cây trồng ngắn ngày, lượng phân bón hữu cơ nên sử dụng để bón lót. Lượng bón khoảng từ 300-400 kg/ha/vụ phân hữu cơ chế biến.Đối với các loại cây trồng lâu năm cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, phân bón hữu cơ nên sử dụng bón tập trung vào đầu mùa mưa để nâng cao hiệu suất sử dụng và hiệu lực của phân bón vô cơ phần lớn phân bón vô cơ được bón tập trung vào mùa mưa. Lượng bón khoảng 400-1.000 kg/ha/năm. - Hiện năng lực sản xuất phân bón trong nước đã đáp ứng được trên 80% nhu cầu sử dụng phân vô cơ với tổng sản lượng sản xuất hằng năm đạt trên 8 triệu tấn các loại. Cụ thể, một số loại phân bón chính như urea, NPK, phân bón chứa lân... Đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước. Năm 2013, do giá hầu hết các mặt hàng nông sản đều giảm hoặc giá thấp nên nhu cầu phân bón không tăng nhiều. Đến cuối tháng 10, đầu tháng 11, nhu cầu phân bón cho vụ đông đã bắt đầu tăng nên giá một số loại phân bón trên thị trường thế giới bắt đầu tăng nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, giá phân bón thế giới hiện nay thấp hơn khoảng trên 20%. Tại thị trường trong nước, từ quý III, giá phân bón liên tục giảm do nguồn cung trong nước khá dồi dào cùng với nguồn nhập khẩu giá thấp từ thị trường Trung Quốc sau khi TQ giảm thuế xuất khẩu. Thưa ông, theo phản ánh của nông dân thì giá phân bón vẫn chiếm một tỉ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, khiến họ làm ăn không có lãi. Vậy một khi VN đã chủ động được nguồn cung phân bón thì giá phân bón có thể giảm được không? - Hiện nay giá phân bón được quản lý theo cơ chế giá thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước. Các DN kinh doanh phân bón được quyền tự định giá theo tín hiệu thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả SXKD. Nhà nước sử dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để bình ổn giá, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của DN kinh doanh phân bón, của người sử dụng và lợi ích của Nhà nước thông qua các biện pháp: Điều hòa, bảo đảm cân đối cung cầu các loại phân bón giữa sản xuất trong nước và nhập khẩu NK; áp dụng các biện pháp về tài khóa, tiền tệ; kiểm tra, kiểm soát thị trường... Nhờ cơ chế đó, kinh doanh phân bón có môi trường cạnh tranh khá mạnh trên thị trường, nhất là sự cạnh tranh về giá bán giữa phân bón sản xuất trong nước và phân bón NK. Một bất cập nữa là hệ thống phân phối phân bón qua nhiều tầng nấc trung gian chính là nguyên nhân khiến DN sản xuất phân bón không thể kiểm soát được giá bán đến tận tay nông dân. Có thời điểm nhất là vào mùa vụ luôn xảy ra hiện tượng đầu cơ, găm hàng khiến nông dân phải mua phân bón với giá cao. Để giải quyết tận gốc vấn đề này, theo ông cần phải xử lý vấn đề gì? - Để kiểm soát giá bán phân bón, Chính phủ và các bộ ngành đã chỉ đạo các DN sản xuất, phân phối phân bón chứng nhận, phân bón trong nước tổ chức lại hệ thống phân phối, giảm bớt các tầng nấc trung gian trong hệ thống, đẩy mạnh triển khai thực hiện quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất, hệ thống phân phối các mặt hàng thiết yếu trong đó có mặt hàng phân bón. Bộ Công Thương đã chỉ đạo các nhà sản xuất phân bón trong nước ổn định sản xuất, phát huy tối đa công suất thiết kế, chỉ đạo TCty Phân bón và Hóa chất Dầu khí thực hiện nghiêm túc việc duy trì lượng phân đạm dự trữ tối thiểu là 70.000 tấn để luôn đảm bảo nguồn cung, tránh hiện tượng thiếu hàng dẫn đến tăng giá, sốt giá. Có ý kiến cho rằng, cần xây dựng cơ chế để DN công khai, minh bạch chính sách giá với phân đạm. Trường hợp Nhà nước vẫn chủ trương điều tiết giá theo thị trường, cần có chính sách điều tiết phù hợp lợi nhuận từ DN để hình thành quỹ bình ổn phân bón. Ông có ý kiến gì về vấn đề này? - Theo quy định của Luật Giá có hiệu lực từ ngày 1.1.2013 thì mặt hàng phân đạm, phân NPK là những mặt hàng thuộc diện bình ổn giá. Hiện nay, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ nghị định quy định chi tiết hướng dẫn Luật Giá. Để điều hành giá các mặt hàng thuộc diện bình ổn giá trong khi chờ nghị định của Chính phủ ban hành, Bộ Tài chính đã có công văn gửi Sở Tài chính địa phương hướng dẫn tạm thời về việc đăng ký giá, kê khai giá, theo đó: Trường hợp cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bình ổn giá thì các tổ chức, cá nhân thuộc danh sách phải đăng ký giá. Trong thời gian Nhà nước không áp dụng biện pháp bình ổn giá thì tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký giá tại địa phương. Các cơ sở kinh doanh phân bón phải thực hiện việc niêm yết, công khai giá bán phân bón. - Xin cảm ơn ông..


Để đầu tư dây chuyền sản xuất phân bón, nhiều doanh nghiệp phải đầu tư 50 – 60 tỷ đồng công nghệ. Nhức nhối phân bón giả, kém chất lượngHiện nay, các loại phân bón nhập lậu, giả, kém chất lượng chủ yếu là phân u-rê, ka-li và NPK. Trong đó, hành vi vi phạm phổ biến là thiếu hàm lượng các chất dinh dưỡng trong phân bón so với tiêu chuẩn công bố. Trao đổi ý kiến với chúng tôi, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Vật tư nông sản Nguyễn Tiến Dũng cho biết: Do việc xác định chất lượng NPK, nhất là loại một hạt cần phải có máy móc để phân tích xác định, cho nên một số cơ sở sản xuất nhỏ lẻ lợi dụng kẽ hở này để làm giả hoặc ăn bớt hàm lượng tiêu chuẩn trong phân bón nhằm hạ thấp giá thành nhưng trên bao bì vẫn ghi đủ hàm lượng theo quy định nhằm thu lời bất chính. Nhiều trường hợp còn trắng trợn trộn bùn, bột đá, chất phụ gia vo viên đóng giả phân bón NPK, DAP để bán ra thị trường... Thí dụ như phân NPK 16-16-8, quy định hàm lượng ni-tơ trong loại phân bón này cần đạt ít nhất 16%; P2O5 cần đạt ít nhất 16% và ka-li cần đạt ít nhất 8%, nhưng thực tế trên thị trường nhiều loại phân bón NPK 16-16-8 có làm lượng thấp hơn so với tiêu chuẩn quy định. Nếu các loại phân bón đủ hàm lượng được bán với giá khoảng 11.000 - 12.000 đồng/kg, thì phân bón giả, kém chất lượng bán rẻ hơn từ một nghìn đến bốn nghìn đồng/kg. Điển hình là gần đây nhất xảy ra vụ làm phân bón NPK giả của Công ty cổ phần Đầu tư khoa học kỹ thuật và Công nghệ Việt Pháp tại Thanh Trì, Hà Nội. Số phân bón tổng hợp NPK thành phẩm giả bị phát hiện lên đến khoảng 60 tấn. Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện 800 kg ka-li, 400 kg đạm, 22 kg bột can-xi nhẹ bột đá... Không có hóa đơn, chứng từ; nhiều bao bì còn giả mạo in tên các công ty phân bón nổi tiếng. Theo kết quả giám định mẫu tại Viện Khoa học hình sự Bộ Công an thì thành phần chính trong phân bón NPK của đơn vị này sản xuất là bột đá vôi. Các loại phân bón NPK có hàm lượng thấp có rất nhiều loại, loại nào cũng quảng cáo tốt, tăng năng suất cây trồng... Khiến người nông dân không thể phân biệt; trong số đó, có nhiều loại chất lượng không tương xứng mẫu mã được in trên bao bì.Ngoài ra, các cơ quan chức năng còn phát hiện nhiều trường hợp nhập lậu NPK, hàng kém chất lượng từ Trung Quốc về Việt Nam có mầu giống như thật, nhưng khi giám định thì chỉ có 0,27% là K2O hàng thật K2O phải là ít nhất 60% K2O, thành phần chính của loại hàng này là cát nhuộm mầu đỏ. Một số hàng NPK giả thường nhái bao bì của nhà sản xuất Việt Nhật, Phi-li-pin; một số hàng kém chất lượng, giả thường nhái nhãn hiệu bao bì của các công ty nhập khẩu có uy tín lớn trên thị trường.Việc phân bón nhập lậu, kém chất lượng đang hoành hành trên thị trường không chỉ gây tác hại cho cây trồng, tước đoạt mồ hôi, công sức của nông dân mà còn làm rối loạn thị trường, thiệt hại nghiêm trọng đến thương hiệu các nhà sản xuất, kinh doanh phân bón khác. Năm 2012, Cục Quản lý thị trường Bộ Công thương đã tổng kiểm tra 13.320 vụ với 2.216 cơ sở kinh doanh phân bón thì có tới 387 vụ vi phạm, đã xử lý 2.462 tấn phân bón các loại. Trao đổi ý kiến với chúng tôi, Phó Cục trưởng Quản lý thị trường Đỗ Thanh Lam cũng thừa nhận, hiện vẫn xảy ra các hành vi vi phạm về nhãn, mác; phân bón kém chất lượng hoặc kém chất lượng đến mức coi là giả; vi phạm về thực hiện quy định niêm yết giá và bán theo giá niêm yết, về đăng ký kinh doanh; phân bón giả các nhãn hiệu nổi tiếng; vi phạm quy định về chế độ hóa đơn chứng từ và phân bón nhập lậu. Theo Cục Quản lý thị trường, công tác quản lý phân bón hiện nay đang gặp phải hàng loạt khó khăn như: Việc để phân biệt phân bón giả, kém chất lượng không thể nhận biết bằng mắt thường, phải kiểm định tại các tổ chức giám định được chỉ định nhưng kinh phí giám định còn thiếu, thời gian giám định kéo dài vì vậy không xử lý kịp thời; mức xử phạt thấp cho nên tính răn đe chưa cao, nhiều đối tượng vi phạm vẫn tái phạm. Lực lượng kiểm tra, kiểm soát còn mỏng; kinh phí, phương tiện, trang thiết bị còn thiếu, lạc hậu trong khi các đối tượng vi phạm có nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi... Mặt khác, trình độ chuyên môn của cán bộ chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.Cần những giải pháp quyết liệt và đồng bộDự báo, năm 2013, nguồn cung phân bón trong nước sẽ tăng lên đáng kể, nhất là u-rê, NPK và dự báo còn phải nhập 2,47 triệu tấn phân bón các loại. Hiện nay, sản xuất công nghiệp phân bón trong nước mới đáp ứng khoảng 78%. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại nhất đối với bà con nông dân vẫn là nạn sản xuất, kinh doanh phân bón giả chưa được triệt tiêu.Để quản lý các đơn vị sản xuất, kinh doanh phân bón một cách chặt chẽ, Hiệp hội Phân bón Việt Nam kiến nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định về quản lý, sản xuất, kinh doanh mặt hàng phân bón. Đưa phân bón trở thành ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Các tổ chức, cá nhân muốn sản xuất, kinh doanh phân bón phải đáp ứng các yêu cầu về giấy phép, chứng minh khả năng tài chính, năng lực sản xuất, trang thiết bị, công nghệ, cơ sở nhà xưởng, điều kiện về môi trường... Đáng chú ý, phải chịu trách nhiệm và thực hiện đầy đủ các quy định về chất lượng phân bóng do doanh nghiệp sản xuất. Đây được xem là hành lang pháp lý quan trọng trong việc ổn định thị trường phân bón lâu dài, bền vững và tạo thuận lợi để xử lý những hành vi vi phạm trong lĩnh vực này.Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang phối hợp lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế mở các đợt cao điểm truy quét phân bón giả, kém chất lượng trên toàn quốc. Một trong những biện pháp được đẩy mạnh, đó là tăng cường kiểm tra đột xuất tại cơ sở sản xuất, kinh doanh. Khi phát hiện các đơn vị kinh doanh, sản xuất vi phạm sẽ xử phạt nặng như: đình chỉ sản xuất, công bố tên và hành vi vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng, rút giấy phép kinh doanh, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, lực lượng hải quan, quản lý thị trường cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh phân bón, xử lý triệt để các hành vi vi phạm.Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam Nguyễn Hạc Thúy cho biết: Tình trạng phân bón giả, phân bón kém chất lượng vẫn diễn biến phức tạp. Để tránh mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng, hiệp hội thường xuyên khuyến cáo bà con nông dân nên chọn mua phân bón của các công ty có thương hiệu, uy tín và tại các đại lý lớn để tránh mua phải hàng nhái, hàng giả, kém chất lượng.Hy vọng với việc áp dụng đồng bộ, nghiêm túc các giải pháp nêu trên, quyền lợi chính đáng của bà con nông dân và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón chân chính sẽ được bảo đảm trong thời gian tới.TRẦN HẢOBộ Công thương đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hóa chất, phân bón, vật liệu nổ công nghiệp, hành vi sản xuất, gia công phân bón giả. Đặc biệt, nếu sản xuất, gia công phân bón giả có giá trị tương đương với hàng thật đến 40 triệu đồng thì mức xử phạt được đề xuất áp dụng là từ 60 đến 70 triệu đồng. Và mức xử phạt cao nhất được áp dụng đối với hành vi này là từ 120 đến 150 triệu đồng, áp dụng đối với hành vi sản xuất, gia công phân bón giả có giá trị tương đương với hàng thật từ 100 triệu đồng trở lên... Số phân bón N.P.K giả bị tịch thu, lưu tại kho của Chi cục QLTT Bình Định Trước đó, vào tháng 2/2014, Đội QLTT chống hàng giả thuộc Chi cục QLTT Bình Định, nhận được thông tin phản ánh từ Công ty CP phân bón Bình Điền về việc phát hiện tại địa bàn tỉnh Phú Yên có xuất hiện phân bón giả hiệu Bình Điền, xuất xứ từ Công ty TNHH TM và DV Anh Trang, địa chỉ tại tổ 5, kv 9, P. Trần Quang Diệu, TP Quy Nhơn Bình Định. Công ty phân bón Bình Điền đã có văn bản yêu cầu Đội QLTT chống hàng giả thuộc Chi cục QLTT Bình Định vào cuộc, kiểm tra cơ sở xuất bán số phân bón giả nói trên. Đội QLTT chống hàng giả đã phát hiện 25 bao trọng lượng 1.220kg, loại phân NPK 20-20-15 nhãn hiệu Đầu Trâu của Công ty CP phân bón Bình Điền đang bán tại Công ty TNHH TM và DV Anh Trang. Đại diện Công ty CP phân bón Bình Điền xác định đó là hàng giả, và ký cam kết về ghi nhận này với cơ quan chức năng. Qua quá trình kiểm tra và xác minh, các đơn vị chức năng tỉnh Bình Định kết luận, Công ty TNHH TM&DV Anh Trang đã có hành vi buôn bán hàng hóa giả mạo, kém chất lượng. Sau khi làm rõ vụ việc, UBND tỉnh Bình Định có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với công ty này. THU DỊU. Ông Nguyễn Thành Danh, trưởng vùng ĐBSCL- Cty CP Phân bón Bình Điền cho biết, năm 2012 là năm khó khăn đối với các DN ngành phân bón. Vì hiện nay trên thị trường có rất nhiều Cty SX phân bón ra đời, SX với công nghệ cuốc xẻng” rồi đưa xuống các đại lý VTNN ở vùng sâu vùng xa bán cho nông dân. Các loại phân bón này thường có giá thành rất thấp và bán nợ cho nông dân đến cuối vụ mới lấy tiền. Nông dân luôn tin tưởng, lựa chọn sản phẩm của các DN uy tín, có thương hiệu Chính điều này đã phần nào gây khó khăn cho các DN làm ăn lớn. Vì vậy, để đảm bảo phát triển bền vững, Cty chúng tôi đã xây dựng chiến lược lâu dài, cùng đồng hành với người nông dân. Cụ thể Cty hỗ trợ trực tiếp 100% phân bón cho nông dân tham gia CĐML với hơn 800.000 ha ở khu vực phía Nam, nông dân được bán gối đầu cho tới cuối vụ. Riêng đối với nông dân SX CĐML ở xa, mua trực tiếp ở các đại lý cấp I và II thì được giảm giá 25.000 đ/bao phân. Chủ yếu 2 sản phẩm của chung nhan, phan bon Cty đưa ra là phân bón Đầu Trâu Agrotain lúa 1 + trung vi lượng và Đầu Trâu Agrotain lúa 2 + trung vi lượng, hỗ trợ nông dân SX CĐML với sản lượng từ 32.000- 36.000 tấn phân/vụ, ông Danh cho biết. Ngoài chương trình hỗ trợ phân bón cho nông dân trong CĐML, Cty phối hợp với Chi cục BVTV các tỉnh, thành mở các lớp tập huấn để hướng dẫn nông dân cách bón phân cân đối đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó Cty Bình Điền còn mở Chuyên đề Khoa giáo” trực tiếp phát sóng trên truyền hình CVTV mỗi tháng 2 lần, hướng dẫn nông dân cách sử dụng phân bón hiệu quả, đồng thời giải đáp thắc mắc trực tiếp qua sóng truyền hình. Hiện tại, công suất SX của Bình Điền đạt 500.000 tấn/năm, riêng thị trường ĐBSCL mỗi năm Cty cung cấp khoảng 150.000 tấn phân bón, đảm bảo đủ nguồn phân cho thị trường. Ngoài ra DN đang mở rộng thị trường XK phân bón sang Campuchia và Lào. Bà Nguyễn Kim Thoa, TGĐ Cty Phân bón Con Cò Vàng cho biết, để giữ giá bình ổn cho nông dân trong bối cảnh hiện nay là điều rất khó. Vì nguyên liệu đầu vào làm phân bón đa phần phải nhập từ nước ngoài nên giá cả luôn biến động, khiến việc kinh doanh phân bón trong nước gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, các DN còn phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt bởi những sản phẩm phân kém chất lượng có mặt trên thị trường. Do đó, ngoài việc nỗ lực giữ giá ổn định, Cty cần phải có chiến lược dài hơi để có sự tin cậy của nông dân và thương hiệu được nhiều người biết đến. Trong năm 2012, sản phẩm của Cty chủ yếu được cung cấp cho thị trường ĐBSCL và khu vực Tây Nguyên. Để đáp ứng nhu cầu phân bón trong vụ HT tới, Cty đang đẩy mạnh đưa hàng về các đại lý và cố gắng giữ mức giá ổn định như vụ ĐX đã bán cho nông dân. Đồng thời tăng cường tập huấn và hội thảo từ 300- 400 cuộc để giúp nông dân nắng vững KHKT trong cách bón phân, giảm được chi phí, tăng lợi nhuận. Hiện tại Cty có 3 văn phòng đại diện và 3 NMSX phân công suất 200.000 tấn/năm, đang đẩy mạnh XK sang các thị trường Campuchia và châu Phi. Còn bà Lê Thị Thanh Chung, GĐ Cty SXKD phân bón Cường Phát cho biết, Cty chủ yếu SX mặt hàng phân bón vi sinh hữu cơ đang phát triển mạnh ở thị trường ĐBSCL phục vụ cho lúa và hoa màu. Cái khó hiện nay thị trường phân vi sinh hữu cơ đang có rất nhiều Cty vừa và nhỏ tham gia, với rất nhiều chủng loại na ná nhau khiến nông dân rất khó phân biệt. Vì vậy, trong năm 2012 Cty đang đẩy mạnh quảng bá thương hiệu và mở rộng các buổi hội thảo đầu bờ bằng cách tài trợ phân cho nông dân thực hiện các ruộng mẫu nhằm đối chứng từ đó tạo niềm tin cho nông dân. Theo bà Chung, năm 2012, Cty tăng công suất lên 5.000 tấn/tháng để bán sang thị trường Campuchia, riêng thị trường ĐBSCL trong năm nay sẽ cung cấp khoảng 15.000 tấn/năm và giữ giá ổn định cùng giúp nông dân làm giàu trong vụ mùa. Nông dân Nguyễn Văn Nam, ở xã An Khánh, Châu Thành, Đồng Tháp cho biết: Tôi SX 2 ha lúa, cũng mua và sử dụng nhiều loại phân của nhiều Cty. Nhưng qua các lớp hội thảo hoặc lớp tập huấn cũng giúp nông dân chúng tôi cân nhắc lại, không ham phân rẻ và sản phẩm mới mà mua. Chúng tôi đặt lên hàng đầu là sản phẩm có uy tín và chất lượng ở trên thị trường. Chẳng hạn vụ lúa ĐX tôi làm lúa cho năng suất cao đạt 1,2 tấn/công là nhờ chọn phân bón của Cty lớn như Bình Điền, Đạm Phú Mỹ… Trong vụ HT này nông dân ĐBSCL còn có thêm lựa chọn khi Cty TNHH MTV Phân bón Dầu khí Cà Mau PVCFC chính thức tham gia thị trường, cung cấp sản phẩm cho nông dân. Riêng trong tháng 3 Cty đã đấu giá thành công 3 lô hàng với số lượng 21.000 tấn. Hiện Cty đang tiếp tục đấu giá lô hàng thứ tư với số lượng gần 20.000 tấn, đồng thời đẩy mạnh việc đưa hàng đến các đại lý nhằm cung cấp cho bà con nông dân. Nhằm giúp bà con nông dân quen dần với sản phẩm urea Hạt đục Cà Mau, năm 2011 và đầu 2012, PVCFC đã triển khai hơn 46 mô hình điểm trình diễn và tổ chức các cuộc hội thảo ở hầu hết các tỉnh, thành ĐBSCL. Sau khi tham quan, nắm bắt các thông tin về kết quả thực hiện các mô hình trình diễn, bà con nông dân đang rất quan tâm đến sản phẩm mới và mong muốn sử dụng Đạm Cà Mau cho vụ HT 2012. PGS.TS. Nguyễn Văn Huỳnh, Trường ĐH Cần Thơ: Hạn chế lạm dụng thuốc BVTV PGS.TS. Nguyễn Văn Huỳnh đề nghị hạn chế lạm dụng thuốc trừ sâu bằng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM đã được đề xuất năm 1992, nhằm bảo vệ sự cân bằng sinh thái trong ruộng lúa. Theo ông: Cần chọn kĩ thuật canh tác là biện pháp hàng đầu để tạo ruộng lúa khỏe sạ thưa, bón phân cân đối, mùa vụ đồng loạt và không hoặc giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu để bảo vệ các loài thiên địch. Thêm vào đó, việc trồng cây có hoa trên bờ ruộng có thể kích hoạt” vai trò của thiên địch, bằng cách thu hút chúng đến ăn mật và phấn hoa; sau đó, chúng sẽ đi vào trong ruộng kế cận ăn sâu rầy rồi sinh sản và gia tăng mật số ở đó nhằm giúp bảo vệ ruộng lúa, theo nguyên tắc đa dạng sinh học đưa đến cân bằng sinh thái”. Cũng theo ý kiến PGS.TS. Nguyễn Văn Huỳnh, chương trình áp dụng công nghệ sinh thái bằng cách trồng cây có hoa trên đồng ruộng để thu hút thiên địch nhằm tiết giảm thuốc trừ sâu đã được nông dân hưởng ứng nhiệt tình. Điều này là tiên đề cho kế hoạch kiến thiết lại đồng ruộng thân thiện môi trường”, tiến đến một nền SX lúa bền vững ở ĐBSCL. Thạch Thảo .. Đợt 1: Tính từ khi kết thúc thu hoạch vụ trước cho đến khi cây phục hồi sinh trưởng, tăng cường quá trình tích lũy dinh dưỡng. Thời kỳ này cần ưu tiên bón phân hữu cơ, phân lân và phân đạm N nhằm nhanh chóng giúp cây trồng phục hồi sức khỏe sau một thời gian dài phải huy động dinh dưỡng nuôi trái.Đối với cây đang ở giai đoạn kinh doanh, việc bón phân phải được đặc biệt chú trọng.Tạo tiền đề tốt cho việc tích lũy dinh dưỡng giúp cho giai đoạn kế tiếp. Với một số cây ăn trái có thời gian từ khi kết thúc thu hoạch đến ra hoa vụ kế tiếp quá ngắn thì cần phải bón phân đợt 1 sớm, khi việc thu hoạch trái vụ trước đã đạt từ 70-80%. Đồng thời, ở đợt bón phân này cũng cần bổ sung cả những loại phân bón lá nhằm tăng cường khả năng phục hồi và tích lũy chất giúp đâm chồi nhánh mới và phát triển bộ lá.Đợt 2: Tính từ sau khi kết thúc đâm đọt lá non đã chuyển hoàn toàn sang lá già xoài, nhãn,... Riêng họ cam, quýt, chanh, bưởi thì phải bón trước khi đâm đọt mới vì nhóm cây này khi đâm đọt đồng thời với trổ bông.Giai đoạn này cần bón tăng tỷ lệ phân lân P và phân kali K, giảm lượng phân đạm N nhằm giúp cho tỷ lệ C/N của cây tăng cao, thuận lợi cho quá trình hình thành mầm hoa, phát triển hoa. Giai đoạn này cũng cần bổ sung thêm các chất vi lượng đặt biệt là vi lượng B nhằm tăng thêm số lượng, chất lượng của hạt phấn, giúp cho việc thụ phấn thụ tinh được dễ dàng, giảm tỷ lệ rụng hoa, giúp cho cây ăn trái trổ hoa đều, tập trung.Đợt 3: Được tính từ sau thụ phấn đến khi trái phát triển tối đa thể tích. Giai đoạn này cần bón cân đối các chất đa lượng NPK và cả các chất trung và vi lượng nhằm giúp hạn chế tỷ lệ rụng trái, tăng nhanh việc phát triển thể tích trái và vỏ trái tạo điều kiện cho việc tăng số quả và tăng trọng lượng trung bình quả. Đây là 2 chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất.Đợt 4: Đây là giai đoạn tích lũy và chuyển hóa các chất trong trái, tăng độ chắc của trái và tăng chất lượng của trái.Giai đoạn này rất cần chất kali K để tăng cường quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng từ lá cây vào trái, rất cần thêm tỷ lệ chất đạm N, chất calci Ca và vi lượng để giúp cho độ bóng, độ dày của vỏ được phát triển tốt làm tăng giá trị thương phẩm, hạn chế sự tấn công của mầm bệnh, giúp cho trái chín đồng loạt và tăng chất lượng trái. Giai đoạn này cũng cần ưu tiên các loại phân có nguồn gốc hữu cơ sinh học để bảo đảm độ an toàn, chất lượng trái cây và thời gian lưu trữ.TS. Nguyễn Đăng NghĩaTrung tâm Nghiên cứu Đất - Phân bón & Môi trường. Chủ tịch HĐTV Cty TNHH MTV DAP VINACHEM Lâm Thái Dương: Sản phẩm DAP Đình Vũ khác hẳn DAP Trung Quốc là màu sắc tự nhiên, không nhuộm thêm phẩm màu bên ngoài, không tốn thêm chi phí nên giá bán luôn rẻ hơn DAP Trung Quốc. Nhà máy DAP Đình Vũ đạt công suất thiết kế 330.000 tấn/năm, cung cấp sản phẩm cho chủ yếu các tỉnh ĐBSCL và Nam bộ. Sang năm 2013, chúng tôi sẽ mở rộng thị trường ra miền Bắc và miền Trung để đáp ứng nhu cầu của nông dân. Mặc dù là sản phẩm phân bón còn khá mới mẻ với người dân ở hai khu vực này, song chúng tôi tin tưởng, với chất lượng và hiệu quả, phân bón DAP Đình Vũ sẽ nhanh chóng chiếm được niềm tin của bà con. Phân bón khép kín NPK-S Lâm Thao cho lúa vụ xuân năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt Mô hình triển khai tại chứng nhận, phân bón 2 điểm thuộc 2 huyện, gồm: Thôn Lam Điền xã Đông Động, huyện Đông Hưng 2 mô hình; xã Quang Bình, huyện Kiến Xương 1 mô hình. Mỗi mô hình 3ha, tổng diện tích thực hiện là 9ha. Quy trình bón phân được thục hiện theo quy trình bón phân khép kín của công ty: Bón lót: NPK-S5.10.3-8: 25kg/sào; bón thúc đẻ nhánh: NPK-S12.5.10-14: 9kg/sào; bón đón đòng: NPK-S12.5.10-14: 8kg/sào. Đối chứng theo tập quán bón phân thông thường ở địa phương. Trong suốt quá trình thực hiện mô hình, các cán bộ kỹ thuật của công ty kết hợp với Hội Nông dân tỉnh tổ chỉ đạo, theo dõi, đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, hướng dẫn bà con nông dân bón phân theo đúng quy trình kỹ thuật. Ngày 11.6, Hội Nông dân tỉnh phối hợp với Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao tổ chức tổng kết mô hình tại xã Đông Động. Qua thực hiện mô hình trình diễn tại thôn Lam Điền đã đạt được kết quả cao, thể hiện: Ở giai đoạn mạ: Các giống trong mô hình và ngoài mô hình đều giống nhau, mạ khỏe, sức sinh trưởng tốt. Giai đoạn lúa cấy: Các giống lúa ở mô hình đẻ nhánh sớm, tập trung, lá xanh đẹp, lúa trỗ nhanh, gọn; các giống đối chứng đẻ nhánh không tập trung, lá xanh đậm hơn, thời gian lúa trỗ dài hơn, nhiều bông hơn nhưng tỷ lệ bông có số hạt dưới 100 hạt nhiều hơn, tỷ lệ lép cao hơn, số hạt chắc ít hơn. Mức độ sâu bệnh đều nhiễm nhẹ hơn so với đối chứng, đặc biệt là rầy nâu. Theo dõi trên giống lúa tại thôn Lam Điền cho thấy, trên nền phân bón NPK-S chuyên dụng của Lâm Thao, cây lúa phát triển cân đối, cứng, bộ lá khỏe, lúa đẻ tập trung hơn và tỷ lệ dảnh hữu hiệu cao hơn so với ruộng đối chứng. Số dảnh đẻ tối đa đếm được số bình quân tương đương ở cả nền dùng phân chuyên dụng và đối chứng, nhưng tỷ lệ hữu hiệu ở nền phân chuyên dùng NPK-S Lâm Thao cao hơn so với đối chứng. Cụ thể năng suất lúa giống BC15 tại thôn Lam Điền là 260 kg/sào, giống Q5 là 270kg/sào vùng đối chứng giống BC15 năng suất là 230kg/sào, giống Q5 năng suất là 240kg/sào. Trên nền phân bón NPK-S Lâm Thao cây lúa có sức chống chịu sâu bệnh hại ngoài đồng ruộng khá hơn, đặc biệt là bệnh đạo ôn và rầy. Kết quả cho thấy: Mô hình sử dụng phân bón NPK-S chuyên dụng Lâm Thao đều có các chỉ tiêu yếu tố cấu thành năng suất và năng suất tăng so với các ruộng sử dụng phân đơn. Mức tăng năng suất thực thu cuối cùng của mô hình bón phân NPK-S chuyên dụng so với phân đơn là 30kg lúa. Cụ thể, giá bán lẻ phân urea tại Vĩnh Long là 6.400 đ/kg, DAP bán với giá 15.200 đồng/kg; tại Đồng Nai giá urea là 6800 đồng/kg giảm 600 đ/kg so với giá bán tuần trước, giá DAP là 14500 đ/kg, giảm 1500 đ/kg....Dự báo, giá phân bón trong thời gian tới tiếp tục giảm do lượng tồn kho nhiều, giá thế giới giảm mạnh, tiêu thụ chậm do chưa vào vụ gieo cấy. Theo tính toán, với giá urea thế giới hiện nay vào khoảng 250 USD/tấn FOB, cộng với chi phí vận chuyển, lưu thông và các loại thuế thì giá bán lẻ ở trong nước sẽ chỉ là 5.500 đ/kg, thấp hơn khoảng 1.000 đ/kg so với giá bán lẻ trong nước hiện nay.Theo tính toán của Bộ Công Thương, nhu cầu phân bón của nước ta trong năm 2009 cần khoảng 8 đến 8,5 triệu tấn phân bón các loại. Trong đó, urea cần khoảng 1,7 triệu tấn; NPK cần 2,5-3 triệu tấn; phân lân 1,7 triệu tấn; Kali 800 ngàn tấn; DAP cần 750 ngàn tấn và phân bón SA cần 750 ngàn tấn.Trong khi, dự kiến sản xuất trong nước năm 2009 ước khoảng 950 ngàn tấn urea, còn lại phải nhập khẩu 750 ngàn tấn. Phân bón DAP dự kiến sản xuất được 200 đến 250 ngàn tấn từ dự án DAP Hải Phòng còn lại phải nhập khẩu khoảng 450 đến 500 ngàn tấn. Về phân chứa lân supe lân, lân nung chảy và phân hỗn hợp NPK, trong nước có khả năng sản xuất đáp ứng cơ bản nhu cầu dự kiến 1,6 triệu tấn NPK. Phân bón SA và Kali phải nhập khẩu hoàn toàn. Như vậy tổng lượng phân bón các loại cần phải nhập khẩu năm 2009 khoảng 3,5 triệu tấn.Để đảm bảo cân đối trên, Bộ Công Thương yêu cầu ngành phân bón hóa chất và dầu khí tập trung đẩy nhanh tiến độ dự án đầu tư sản xuất phân đạm Ninh Bình, Bắc Giang, Cà Mau, khai thác tối đa năng lực sản xuất các nhà máy hiện có để bảo đảm tối thiểu có 920.000 tấn Urea; phối hợp tốt giữa sản xuất trong nước và nhập khẩu để bảo đảm đủ phân bón cho sản xuất nông nghiệp; tăng cường công tác kiểm soát chất lượng sản phẩm, ngân chặn tình trạng sản xuất, buôn bán phân giả, phân kém chất lượng...


 II. Chứng nhận hợp chuẩn hợp quy Công ty Viễn Phú đón nhận giấy chứng nhận Sản xuất hữu cơ”


.Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn dự báo, nhu cầu phân bón phục vụ nông nghiệp năm 2008 là 8,3 triệu tấn, trong đó sản xuất trong nước khoảng 5,4 triệu tấn và nhập khẩu khoảng 2,9 triệu tấn. Đến cuối tháng 9/2008, các doanh nghiệp trong nước đã sản xuất được 3,7 triệu tấn và nhập khẩu ước khoảng 2,6 triệu tấn. Lượng phân bón nhập khẩu tăng đã giúp hạ cơn sốt phân bón trong nước.Trong tháng 10/2008, Đạm Phú Mỹ sẽ đẩy mạnh việc cung cấp urea cho thị trường thông qua 4 công ty trực thuộc tại: miền Bắc, miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nam bộ để đáp ứng nhu cầu vụ mùa Đông Xuân sắp tới. Tổng Công ty Phân đạm và hóa chất dầu khí cũng công bố chính thức giá bán lẻ phân Đạm Phú Mỹ giảm từ 9.500 đ/kg xuống còn 9.200 đ/kg áp dụng từ 1/10/2008 đến 30/10/2008.Hiện nay, Vinachem đang triển khai đầu tư xây dựng mới và mở rộng nhiều dự án sản xuất phân bón các loại. Với những dự án này, ngoài mục tiêu đáp ứng nhu cầu trong nước, các nhà sản xuất phân bón Việt Nam còn kỳ vọng ở mục tiêu xuất khẩu kể từ 2012 trở đi. Cụ thể:Dự án đầu tư nhà máy sản xuất phân DAP Hải Phòng sẽ cho ra những tấn sản phẩm đầu tiên vào cuối tháng 11 tới đây. Với sự hoàn thành và đi vào hoạt động của nhà máy này, Vinachem dự kiến sẽ sản xuất trên 200 nghìn tấn DAP trong năm 2009.Cùng với nhà máy tại Hải Phòng, một nhà máy sản xuất DAP tại Lào Cai với công suất dự kiến 330.000 tấn/năm cũng đang được Vinachem gấp rút triển khai xây dựng.Như vậy, nếu triển khai hết công suất, sản lượng DAP do Vinachem sản xuất sau năm 2012 sẽ đạt khoảng 700-800 ngàn tấn/năm, không chỉ đảm bảo nhu cầu trong nước mà còn có thể xuất khẩu từ 100-200 ngàn tấn/năm.Các dự án đầu tư sản xuất phân urea cũng đang được triển khai ở nhiều giai đoạn khác nhau. Dự án sản xuất urea Ninh Bình công suất 560 nghìn tấn đã được khởi công xây dựng từ hồi tháng 5/2008.Dự án mở rộng nhà máy phân đạm Hà Bắc từ 180 nghìn tấn len 500 nghìn tấn/năm theo kế hoạch cũng sẽ được khởi công vào đầu năm 2009. Cả hai dự án đều dự kiến sẽ hoàn thành sau 42 tháng thi công. Như vậy, tính đến sau năm 2012, năng lực sản xuất urea của Vinachem sẽ tăng lênt rên 1 triệu tấn/năm.Nếu tính cả lượng urea do Petro Vietnam sản xuất, vào thời điểm kể trên, các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội phân bón Việt Nam sẽ có trong tay 2,5 triệu tấn urea/năm và khi đó mỗi năm sẽ xuất khẩu khoảng 1 triệu tấn.Đối với phân lân nung chảy, năng lực sản xuất hiện tại của hai nhà máy trực thuộc Văn Điển và Ninh Bình là 600 nghìn tấn/năm. Do nguồn nguyên liệu trong nước dồi dào, trong khi nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước với loại phân bón này ngày càng cao nên theo kế hoạch, từ nay đến 2010, bên cạnh việc đầu tư mở rộng công suất các nhà máy hiện có, Vinachem sẽ đầu tư thêm nhà máy công suất 300 nghìn tấn/năm tại Lâm Thao Phú Thọ. Dự kiến trong năm 2009 dây chuyền số 1 công suất 100 nghìn tấn/năm sẽ đi vào hoạt động.Như vậy, sau năm 2012 sản lượng phân lân nung chảy của Vinachem sẽ đạt 1 triệu tấn/năm, đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và xuất kahảu từ 150-250 nghìn tấn/năm.Ngoài ra, Vinachem cũng đang triển khai một dự án sản xuất phân bón khác là sản xuất sulfat Amoni SA công suất 300 nghìn tấn/năm tại Hải Phòng. Nhu cầu SA của thị trường trong nước hiện tại khoảng 600-700 nghìn tấn/năm, và phần lớn phải nhập khẩu, khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu. Vườn măng tây của bà Danh bị chết sau khi bón phân. KTNT - Được một người quen giới thiệu, bà Phạm Thị Danh, chủ vườn măng tây ở phường Tân Lập TP. Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk đã tin tưởng dùng sản phẩm phân bón của Công ty cổ phần Thanh Hà Công ty Thanh Hà. Tuy nhiên, sau 3 lần bón, vườn măng của bà chuyển dần sang úa vàng và chết hàng loạt...Măng bỗng dưng hóa khô! Trong đơn gửi báo Kinh tế nông thôn, bà Danh phản ánh: Cuối năm 2010, gia đình bà đã đầu tư hơn 100 triệu đồng trồng hơn 17.000 cây măng tây trên diện tích 1ha tại khu rẫy ven đường Trần Quý Cáp TP. Buôn Ma Thuột. Lúc trồng bà dùng phân chuồng và trấu ủ kỹ, sau khi cây phát triển thì dùng phân bón 20.5.0 và phân 16-16-8 Việt - Nhật. Đầu tháng 7/2011, được một người quen giới thiệu về công dụng của loại phân bón lá NH do Công ty Thanh Hà sản xuất, bà đã mua tổng cộng hơn 20 chai loại 100ml của ông Tuấn trú tại đường Phan Chu Trinh bón cho vườn cây theo đúng quy trình hướng dẫn trên bao bì, cũng như hướng dẫn trực tiếp của người bán. Để chắc ăn, bà còn gọi điện cho Tổng giám đốc Công ty Thanh Hà là ông Nguyễn Anh Kết để được tư vấn cách sử dụng. Bà được ông Kết hướng dẫn phun theo công thức trên bao bì. Bón được 5 ngày thì bà Danh hoảng hồn bởi măng tây có biểu hiện vàng cây, gốc cây già, măng chung nhan, phan bon mọc lên bị cong đầu không bình thường, rồi dần dần héo rũ. Bà báo cho ông Tuấn và Văn phòng đại diện Công ty Thanh Hà tại TP. Buôn Ma Thuột, Văn phòng này cử cán bộ xuống kiểm tra, hướng dẫn tiếp tục tưới phân với nồng độ loãng 100 ml/1.500 lít nước theo phương thức tưới 2 lần, cách nhau 3 ngày. Bà Danh chỉ thử tưới 11 luống, song mới được 5 ngày thì cây… chết hẳn, sau đó lần lượt những luống còn lại cũng chết theo. Chỉ trong vòng chưa đầy 2 tháng, cả vườn măng xanh tốt bỗng biến thành vườn cây khô khốc… Nếu không đồng ý thì cứ kiện Trong Biên bản giải quyết khiếu nại đối với bà Danh ngày 22/9/2011 của Thanh tra Sở Nông nghiệp và PTNT Đắk Lắk, đại diện Phòng Trồng trọt của Sở đề nghị, Công ty Thanh Hà nên có trách nhiệm với hộ bị thiệt hại và hỗ trợ một phần kinh phí để họ khắc phục vườn cây. Theo bà Danh, thời điểm vườn măng tây còn "thoi thóp", đại diện Văn phòng Công ty có đến hướng dẫn cách hồi phục, nhưng khi cây chết hẳn thì họ cho rằng không phải do phân bón của họ nên không xem xét giải quyết. Sau đó, Phòng Trồng trọt đã xuống kiểm tra và đề nghị dừng không sử dụng loại phân bón này để khắc phục hiện tượng cây chết. Tuy nhiên, cán bộ Văn phòng đại diện Công ty Thanh Hà lại xuống hướng dẫn phun tưới trực tiếp cứu cây với nồng độ loãng càng làm gia tăng ngộ độc, gây chết cây. Được biết, gia đình bà Danh đang rất khó khăn bởi trước đó, bà đã thế chấp sổ đỏ vay ngân hàng 100 triệu đồng để đầu tư trồng măng tây; hàng tháng phải trả lãi và tiền công cho công nhân từ 4 - 5 triệu đồng… Làm việc với báo Kinh tế nông thôn, ông Kết cho rằng: "Khu vực này trồng măng tây không phù hợp vì thiếu nước. Hơn nữa, cây chết không phải do chất lượng phân bón Thanh Hà mà do người dân đã bón thêm NPK vào sát gốc măng. Chúng tôi chỉ có trách nhiệm khôi phục hiện tượng cây chết nhưng người dân lại không cho thực hiện mà bắt phải bồi thường, điều này là vô lý... Nếu người dân không đồng ý thì cứ kiện ra tòa". Tuy nhiên, ông Kết cũng thừa nhận việc tư vấn thông tin còn sơ sài, chưa đầy đủ dẫn đến hậu quả người dân sử dụng không đúng cách. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và uy tín của doanh nghiệp, đề nghị các cơ quan chức năng sớm vào cuộc điều tra, làm rõ. Cây hồ tiêu từng bị "ngộ độc" như măng tây Tháng 11/2010, vườn tiêu của Công ty TNHH Sản xuất và Dịch vụ Tam Ba Gia Lai do ông Lưu Văn Thọ làm Giám đốc cũng có hiện tượng tương tự như vườn măng tây của bà Danh khi dùng phân bón lá của Công ty Thanh Hà. Trong biên bản làm việc ngày 7/12/2010 giữa Công ty Thanh Hà và ông Lưu Văn Thọ, hai bên đã khẳng định sự cố rụng lá và rụng quả là "do sự cố kỹ thuật". Công ty Thanh Hà đã đồng ý hỗ trợ cho Công ty Tam Ba 66 triệu đồng gần bằng số tiền mua phân bón 66,3 triệu đồng. Tuy nhiên, đến nay Công ty Tam Ba vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ. Kỳ Ninh. SGGP.– Theo nhận định của Bộ Công thương, thời gian tới, thị trường phân bón trong nước có thể biến động ít nhiều do ảnh hưởng thị trường phân bón thế giới khi những thị trường lớn như Ấn Độ, Trung Quốc dự báo sẽ tăng giá nhiều loại phân bón. Hiện nay, nhu cầu sử dụng phân bón vẫn khá cao do vụ hè thu – một trong 2 vụ lúa có diện tích gieo sạ lớn ở đồng bằng sông Cửu Long, kể cả khu vực trồng nhiều cây công nghiệp như cà phê, cao su, hồ tiêu… ở Đông Nam bộ và Tây Nguyên đều ở giai đoạn cần chăm bón. Vì vậy thời gian qua giá bán phân, nhất là urê đạm tăng lên khoảng 10% so với đầu vụ. Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí PVFCCo cho biết, doanh nghiệp đang tăng cường chuyển hàng về nhiều vùng như miền Trung, Tây Nguyên, miền Bắc để đáp ứng nhu cầu mùa vụ, góp phần hạ nhiệt thị trường khi giá phân bón có biểu hiện sốt cục bộ ở một số nơi do gặp khó khăn trong khâu vận chuyển trước đó. Chỉ trong tháng 6 này, PVFCCo dự kiến sẽ cung ứng khoảng 70.000 tấn đạm Phú Mỹ và hơn 60.000 tấn đạm Cà Mau ra thị trường. L.Đăng. Giá bị đẩy lên caoBộ Công thương cho biết, hiện cả nước có gần 300 công ty, xí nghiệp và nhà máy sản xuất phân bón, nhưng mới đáp ứng được 50% nhu cầu phân urê, 75% phân lân; các loại phân bón như DAP, SA, kali vẫn phải nhập khẩu. Trung Quốc là quốc gia cung cấp 1/4 nguyên liệu sản xuất phân bón trên thị trường thế giới và cũng là nguồn cung phân urê lớn cho Việt Nam vừa tăng thuế xuất khẩu phân bón từ 35% lên 135% đã tác động đến nhiều thị trường khu vực. Vì thế giá urê trên thị trường thế giới tăng bình quân từ 255 USD lên 770 USD/tấn, các loại phân bón khác như DAP, kali đều tăng giá từ 326,1% đến 397,5% so với cùng kỳ năm trước. Hiện, giá bán lẻ super lân trong nước đã tăng tới 99,6%, phân hữu cơ tăng 30,8%, phân urê tăng 76% và NPK tăng 184% so với đầu năm.Vụ hè thu năm nay cả nước cần khoảng 400.000 tấn urê và 2 triệu tấn phân bón các loại; nhưng nguồn cung trong nước không đủ, nên phải nhập khẩu. Từ nay đến năm 2010, mỗi năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu hơn 500.000 tấn phân bón các loại, việc nhập khẩu chỉ có khả năng chấm dứt vào năm 2020 khi các nhà máy sản xuất phân bón lớn trong nước đi vào hoạt động ổn định.Giải pháp nào bình ổn thị trường?FVA đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị Chính phủ cần có kế hoạch dài hạn nhập khẩu phân urê hạt đến năm 2010. Mặt hàng này đang phải nhập 50% 820.000-830.000 tấn chủ yếu qua đường tiểu ngạch, nếu con đường này bị trục trặc sẽ khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, FVA cũng kiến nghị ưu tiên đầu tư liên doanh, hoặc tư nhân hóa phát triển phân lân nung chảy do mỗi năm nhu cầu về phân lân nung chảy ở nước ta lên đến 1,2-1,5 triệu tấn, nhưng sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 550.000 tấn. Theo FVA, phải tăng cường cải tiến, đổi mới công nghệ đẩy mạnh sản xuất NPK chất lượng cao để thay thế một phần DAP nhập khẩu. Nếu sản xuất nội địa bảo đảm được 2 mặt hàng này sẽ hạn chế tình trạng nhập siêu. Tổng Công ty Vật tư nông nghiệp cần chủ động tìm thị trường liên hệ với đối tác nước ngoài để nhập khẩu phân bón với giá thấp hơn giá trong nước, góp phần bình ổn giá. Lãnh đạo Tổng Công ty cho biết, thời gian tới, nước ta sẽ chủ động được đạm urê phục vụ nông nghiệp, chỉ còn nhập khẩu phân kali và DAP, đơn vị sẽ chuyển hướng kinh doanh đa ngành. Bên cạnh đó, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính, các cơ quan chính sách cần nghiên cứu tình hình sản xuất phân urê ở Tổng Công ty phân bón và hóa chất dầu khí trong việc ưu đãi giá khí; chỉ đạo các bộ, các địa phương thực hiện Chỉ thị số 644/TTg của Thủ tướng Chính phủ về quản lý sản xuất phân bón hữu cơ, phân đặc chủng cho từng loại cây, phân bón chuyên dùng cho mùa rét, phân chuyên cho đất khô hạn và thích hợp cho từng vùng đất. Ngoài ra cần đẩy nhanh tiến độ các dự án phân bón lớn như Nhà máy DAP Đình Vũ Hải Phòng, đạm - than Ninh Bình, mở rộng nhà máy đạm Hà Bắc, nhà máy super lân tại Lào Cai để sớm có sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.


Việc UBND huyện ra lệnh cấm lưu thông với một sản phẩm hàng hóa được sản xuất hợp qui là chưa nơi nào có tiền lệ, bởi khi đối chiếu với Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa số 05/2007/QH12 do Quốc hội ban hành có hiệu lực từ 01/07/2008, Nghị định số 113/2003/NĐ-CP ngày 7/10/2013 của Chính phủ về quản lý sản xuất kinh doanh phân bón, Nghị định số 15/2010/NĐ-CP ngày 01/03/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh phân bón thì văn bản trên của UBND huyện Đăk Mil đều sai trái. Để đầu tư dây chuyền sản xuất phân bón, nhiều doanh nghiệp phải đầu tư 50 – 60 tỷ đồng công nghệ. Kết quả kinh doanh không như mong đợi Nguồn cung tăng cộng với công nghệ mới vào sản xuất đã khiến giá thế giới giảm mạnh kéo theo sự sụt giảm giá phân bón trong nước cộng thêm cung urê trong nước đã vượt quá nhu cầu, lượng hàng tồn kho tăng. Tính đến 15.10, lượng hàng tồn kho của Đạm Ninh Bình và Đạm Cà Mau còn khoảng 88.700 tấn và 81.000 tấn. Bên cạnh đó, việc Trung Quốc giảm thuế xuất khẩu urê xuống còn 2% từ 1.7 đến 31.10.2013, nên lượng phân urê lớn đã được nhập khẩu vào Việt Nam có giá thành thấp, cạnh tranh mạnh với các sản phẩm trong nước, cộng thêm với nạn hàng giả, hàng nhái khiến doanh thu và lợi nhuận của DN phân bón giảm sút. Như TCty Phân bón và hóa chất dầu khí DPM - HSX, DN chiếm 40% thị phần urê cả nước song doanh thu thuần và lợi nhuận 9 tháng của DPM đều sụt giảm lần lượt 24% và 21,52% so với cùng kỳ do giá phân bón giảm, chi phí tăng do sửa chữa bảo dưỡng lớn và DPM ngừng cung ứng sản phẩm của nhà máy Đạm Cà Mau từ tháng 11.2012. Còn CTCP Supe phốtphát và hóa chất Lâm Thao LAS - HNX có kết quả kinh doanh hiệu quả nhất, 9 tháng đầu năm, LAS đạt doanh thu 4,157 tỉ đồng tăng 13%, song lợi nhuận chỉ tăng 4% so với cùng kỳ do chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN tăng lần lượt 12% và 18% so với cùng kỳ. So với 2 DN anh em, CTCP Vật tư tổng hợp và phân bón hóa sinh HSI - HSX có kết quả kinh doanh kém nhất với khoản lỗ 28,47 tỉ đồng 9 tháng đầu năm 2013 và đang trong diện cảnh báo do LNST năm 2012 âm. HSI không đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn và nguy cơ mất khả năng thanh toán cao. Ngoại trừ HSI sụt giảm do ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh kém hiệu quả, hai CP còn lại đều giữ giá khá tốt, ngay cả trong giai đoạn thị trường sụt giảm mạnh trong quý III. LAS đã tăng 56,6% so với đầu năm và tăng 7,4% so với cuối tháng 8 còn giá CP DPM cũng tăng 13,15% so với đầu năm. Khai thác lợi thế vốn có, tận dụng cơ hội từ chính sách Tuy lợi nhuận quý III sụt giảm, DPM vẫn cán đích kế hoạch lợi nhuận cả năm 1.915 tỉ đồng và mức EPS đáng mơ ước dự kiến 7.100 đồng/CP cuối năm, P/E 6,2 lần thấp hơn trung bình ngành. Cộng thêm vào đó, chiến lược mở rộng 2 thị trường nhiều tiềm năng Campuchia và Myanmar hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích cho cổ đông DPM khi nguồn cung trong nước dư thừa. Tỉ lệ trả cổ tức/LNST được duy trì ở mức khá cao 40-50%, cổ tức bằng tiền mặt duy trì ở 20-25%. Dự kiến năm 2013 cổ tức được điều chỉnh lên gần gấp đôi - từ 2.500 đồng/CP lên 4.500 đồng/CP. DPM vẫn được coi là CP ưu tiên đầu tư nắm giữ trên cả khía cạnh cơ bản chứng nhận, phân bón và thị trường. LAS lựa chọn cách dùng vốn tự có thay cho vốn vay, LAS không có nợ dài hạn, đây là lợi thế lớn của LAS trong việc chủ động nâng cấp dây chuyền sản xuất sau khi tăng vốn từ 648 tỉ đồng lên 778,3 tỉ đồng. LAS hiện đang sản xuất hơn 50 loại phân bón, hóa chất trong đó Supe lân NPK và các loại axit sunfuric chiếm tỉ trọng lớn nhất cũng là nguồn mang lại doanh thu và lãi gộp nhiều nhất cho LAS. Thị phần của LAS khá ổn định, tập trung chính ở miền Bắc từ Hà Tĩnh trở ra. Vừa qua, LAS đã chốt quyền chia cổ tức bằng CP với tỉ lệ 100:20 và cổ tức tỉ lệ bằng tiền 30%. Ngoài ra, Nghị định 202/2013/NĐ-CP mới được ban hành quy định về quản lý phân bón có hiệu lực thi hành từ 1.2.2014, tạo điều kiện thuận lợi cho DN làm ăn bài bản, uy tín. Theo đó, quy định rất chặt chẽ các điều kiện sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu phân bón, quản lý chất lượng và quy định thêm nhiều hành vi bị nghiêm cấm như: Giả mạo, tiêu chuẩn không đúng với đăng ký, thêm bớt thành phẩm hoặc chất phụ gia, kinh doanh phân bón không có hóa đơn chứng từ hợp pháp chứng minh rõ ràng về nguồn gốc xuất xứ. Có nghĩa rằng, sau ngày 1.2.2014, hàng trăm đơn vị sản xuất kinh doanh phân bón không đáp ứng được yêu cầu sẽ phải tạm thời đóng cửa, tạo cơ hội cho các Cty lớn, uy tín phát triển. Tuy có những khó khăn nhất định trong việc lấy lại phong độ như xưa, song tiềm năng và cơ hội với các DN phân bón uy tín vẫn đang rộng mở; sự chặt chẽ hơn về quy định lại chính là cơ hội để các DN phát triển, tuy nhiên, để tận dụng tốt cơ hội, bản thân DN cũng phải xây dựng chiến lược và có bước đi đúng đắn. PVFCCo là doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh phân bón và hóa chất, và cũng là một trong những doanh nghiệp luôn đi đầu trong lĩnh vực trách nhiệm xã hội. Kể từ khi thành lập tới nay, PVFCCo đã dành hơn 600 tỷ đồng cho các chương trình an sinh xã hội trong lĩnh vực y tế, giáo dục, xây dựng nhà đại đoàn kết, cứu trợ nhân đạo và đền ơn đáp nghĩa.Dưới đây là một số hình ảnh TCty Phân bón và Hóa chất Dầu Khí PVFCCo tặng phân bón cho bà con nông dân gặp khó khăn tại khu vực ĐBSCL: Hồng Minh Email Print .. CEO Group nhắm doanh thu 1.000 tỷ đồng Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần Đầu tư CEO - CEO Group mã CEO, sàn HNX diễn ra sáng 25/3 đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2015 với doanh thu hợp nhất 1.000 tỷ đồng. Hiện sản phẩm Đạm Cà Mau rất được bà con nông dân tin dùng. Ngày 15-9, tại Hà Nội, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam PVN và các bên liên quan tổ chức hội thảo đánh giá hiệu quả dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ, công trình hóa dầu đầu tiên của Việt Nam, sau năm năm hoạt động nhằm chuẩn bị cho công tác đầu tư, quản lý và vận hành các dự án tiếp theo trong ngành Dầu khí, trước mắt là Nhà máy Đạm Cà Mau.Đây là cuộc gặp mặt trao đổi và đánh giá kinh nghiệm mở rộng với sự tham gia rộng rãi của các nhà thầu, các cơ quan quản lý, các ban ngành hữu quan. Dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ do Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí mã CK DPM quản lý và điều hành.Các chuyên gia nước ngoài cũng đánh giá cao tinh thần hợp tác và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bên trong quá trình triển khai và coi chung nhan, phan bon đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành công của dự án. Năm năm qua, Nhà máy Đạm Phú Mỹ cũng đem lại nguồn thu và lợi nhuận cho Nhà nước và các cổ đông với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đạt từ 30% đến 40%. Tổng doanh thu của Tổng Công ty trong 5 năm qua đạt 22.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 6.000 tỷ đồng và đóng góp vào ngân sách gần 800 tỷ đồng.Thái An. PGS.TS. Nguyễn Văn Huỳnh, Trường ĐH Cần Thơ: Hạn chế lạm dụng thuốc BVTV PGS.TS. Nguyễn Văn Huỳnh đề nghị hạn chế lạm dụng thuốc trừ sâu bằng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM đã được đề xuất năm 1992, nhằm bảo vệ sự cân bằng sinh thái trong ruộng lúa. Theo ông: Cần chọn kĩ thuật canh tác là biện pháp hàng đầu để tạo ruộng lúa khỏe sạ thưa, bón phân cân đối, mùa vụ đồng loạt và không hoặc giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu để bảo vệ các loài thiên địch. Thêm vào đó, việc trồng cây có hoa trên bờ ruộng có thể kích hoạt” vai trò của thiên địch, bằng cách thu hút chúng đến ăn mật và phấn hoa; sau đó, chúng sẽ đi vào trong ruộng kế cận ăn sâu rầy rồi sinh sản và gia tăng mật số ở đó nhằm giúp bảo vệ ruộng lúa, theo nguyên tắc đa dạng sinh học đưa đến cân bằng sinh thái”. Cũng theo ý kiến PGS.TS. Nguyễn Văn Huỳnh, chương trình áp dụng công nghệ sinh thái bằng cách trồng cây có hoa trên đồng ruộng để thu hút thiên địch nhằm tiết giảm thuốc trừ sâu đã được nông dân hưởng ứng nhiệt tình. Điều này là tiên đề cho kế hoạch kiến thiết lại đồng ruộng thân thiện môi trường”, tiến đến một nền SX lúa bền vững ở ĐBSCL. Thạch Thảo .


III. Chứng nhận hợp chuẩn hợp quy Có nước chỉ chứng nhận chất lượng giống cây trồng trên đồng ruộng kiểm định đồng ruộng không qua khâu kiểm nghiệm giống trong phòng


Cũng cần lưu ý rằng do điều kiện, các tác động luôn thay đổi nên sẽ không thể áp dụng chế độ bón của năm trước cho năm này được. Nói cách khác là việc cung cấp dinh dưỡng phải luôn thay đổi từng năm. Người nông dân phải dựa vào khung theo khuyến cáo kết hợp với điều kiện thực tế và kinh nghiệm của mình để có thể gia giảm, điều chỉnh sao cho phù hợp. Không nên áp dụng rập khuôn một chế độ bón phân cho nhiều năm, sẽ không đem lại hiệu quả tối ưu. Ông Thúy cho biết, từ giữa tháng 9-2010 đến nay, giá phân bón thế giới tăng từ 40-100 USD/tấn, còn giá phân bón trong nước tăng bình quân từ 700 - 1.000 đồng/kg. Thực tế, việc tăng giá phân bón là do Trung Quốc một thị trường lớn chi phối thị trường thế giới tăng thuế xuất khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước và dành phân trước vụ mùa mới của nước này. Mặt khác, hiện nhiều nước trên thế giới vào vụ sản xuất chính cây vụ đông, cần dùng phân bón nhiều hơn vụ khác; cùng đó, năm nay, nhiều nhà máy sản xuất phân bón nghỉ để bảo dưỡng khiến lượng phân bón giảm. Có ý kiến cho rằng, có hiện tượng doanh nghiệp trong nước găm hàng để nâng giá?Vấn đề này trước đây là có, đặc biệt là năm 2008, nhưng năm nay thì không. Hiện phân bón đang sử dụng ở nước ta phụ thuộc nhiều vào giá thế giới. Không có chuyện các doanh nghiệp ém hàng đẩy giá. Thực tế, từ năm 1990, chúng ta tính quy chuẩn theo công thức 2 kg thóc/1kg Urê. Như vậy, bình quân hai cân thóc hiện nay đã khoảng 10.000 đồng 5.000 đồng/kg, còn một cân Urê cao nhất lúc này cũng chỉ khoảng 7.000 đồng. Giá này vẫn nằm trong quy chuẩn, chưa đến mức báo động. Tuy nhiên, việc tăng giá này sẽ không kéo dài, đến khoảng giữa tháng 10, có thể chững lại và giảm xuống đến cuối năm.Năm 2008, khi giá phân bón tăng, nạn sản xuất phân bón giả, kém chất lượng xuất hiện tràn lan. Đến nay, vấn đề này đã được xử lý ra sao? Năm 2008, do giá phân bón thế giới tăng mạnh, xuất hiện nhiều nơi làm phân bón giả, kém chất lượng. Các đơn vị chức năng đã phát hiện trên 60 đơn vị sản xuất, kinh doanh bán ở 31 tỉnh thành các loại phân bón giả, kém chất lượng. Chúng tôi đã kiến nghị việc này lên Chính phủ, và ngay sau đó, Thủ tướng đã có văn bản chỉ đạo kiểm tra, kiểm soát gắt gao chuyện này. Hiện, nạn sản xuất phân bón giả, kém chất lượng đã giảm khoảng 90% so với năm 2008. Hiện nay, lượng phân bón sản xuất trong nước đáp ứng ra sao?Hiện, sản xuất Urê trong nước đã đáp ứng được khoảng 50%, phân DAP khoảng 15-20%; còn NPK, phân chứa lân đã đáp ứng đủ. Riêng SA, Kali hầu như phải nhập khẩu toàn bộ. Ở nước ta, cuối tháng 10 này, vụ đông ở miền Nam đã bắt đầu. Theo ước tính, vụ đông xuân này cả nước cần 700- 800 nghìn tấn phân các loại, số lượng này đến nay chúng ta đáp ứng gần đủ. Phạm Anh thực hiện. GSTS Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL và kỹ sư Nguyễn Thành Ý thuộc Cty đã trực tiếp diễn giải, hướng dẫn và tư vấn cho nhà nông cách sử dụng phân bón an toàn. Trong thực tế, vụ lúa hè thu vừa qua nông dân sử dụng phân đơn phối trộn không đúng cách bón cho lúa bị lép hạt nhiều, tăng chi phí, giảm lợi nhuận. Nhận thấy được tác hại đó, từ đầu vụ lúa thu đông 2009, Cty đã đầu tư thêm một dây chuyền sản xuất phân hỗn hợp NPK chuyên dùng cho lúa và cây trồng. Qua các khảo nghiệm trên đồng ruộng, chi phí sử dụng phân NPK hỗn hợp giảm hơn sử dụng phân phối trộn từ 10-15%. Chuẩn bị cho vụ lúa thu đông 2009, Cty CP Phân bón Việt Mỹ đã chuẩn bị sẵn sàng 30.000 tấn NPK để cung ứng cho hàng ngàn đại lý đang phân phối cho Cty tại ĐBSCL. Với chất lượng tốt, giá cả hợp lý và ổn định nên phân bón NPK của Việt Mỹ đã được nhiều bà con nông dân ĐBSCL ưa chuộng và sử dụng ngày càng nhiều. Sản lượng phân bón sản xuất trong nước trong 9 tháng đầu năm đạt trên 4 triệu tấn phân bón các loại, trong đó có 2,08 triệu tấn phân NPK, 1 triệu tấn phân lân, gần 700.000 tấn phân urê... Tính cả lượng phân urê tồn kho năm 2007 chuyển sang khoảng 250.000 tấn thì trong 9 tháng đầu năm nay, tổng lưonựg phân urê có trên thị trường, kể cả số lượng đã được sử dụng là 1,5 triệu tấn. Theo tính toán, tổng lượng phân bón các loại phục vụ cho nông nghiệp cả nước từ 8,0-8,3 triệu tấn/năm. Các nhà máy sản xuất trong nước mới đáp ứng được 50% nhu cầu, trong đó Tổng công ty Phân bón – Hóa chất dầu khí gọi tắt là Đạm Phú Mỹ - DPM sản xuất 740.000 tấn, nhà máy Đạm Hà Bắc sản xuất 175.000 tấn, số còn lại do các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu. Trong 9 tháng đầu năm 2008, sản lượng của DPM đạt 540.000 tấn, của Đạm Hà Bắc trên 100.000 tấn.Theo Tổ Khoa học nông nghiệp, Vụ Kế hoạch Bộ NN&PTNT, thị trường phân bón thế giới năm 2008 diễn biến đặc biệt phức tạp, hiện giá phân bón nhập khẩu từ thị trường Nga và Trung Đông đã ở mức trên 730 USD/tấn, tăng bình quân 390 USD/tấn, tăng mạnh so với mức tăng 130 USD/tấn trong năm 2007. Không chỉ giá tăng mạnh, nguồn cung bất ổn định, giá cước vận chuyển tăng cùng vưói chính sách hạn chế xuất khẩu phân bón của một số nước khiến cho giá phân bón khi về tới Việt Nam tăng cao.Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, giá bán buôn phân urê hiện nay ở miền Nam là 8.600 đồng/kg, ở miền Bắc là 8.500 đ/kg, do phải qua các đại lý trung gian nên khi phân bón tới tay nông dân giá đã ở mức trên 10.000 đồng/kg. Thời điểm nóng” nhất đối với phân urê là vào đầu tháng 11/2008, khi các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bắt dadàu cần phân bón cho vụ đông xuân. Lúc đó, giá cả sẽ có khả năng tiếp tục tăng.Hiện nay do giá phân urê nhập khẩu ở mức cao nên các doanh nghiệp nhập khẩu đang dè dặt trong nhập khẩu mặc dù đã được các ngân hàng thương mại giải quyết cho vay ngoại tệ để nhập khẩu.Không những thế, ngành sản xuất phân bón trong nước cũng phải đối mặt với những khó khăn do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao... Do vậy, nguy cơ biến động chung nhan, phan bon về giá là rất khó lượng.. NHỮNG KHÁC BIỆT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU ĐBSCL hiện có khoảng 1,7 triệu ha đất trồng lúa, trong đó diện tích lúa 3 vụ/năm ĐX, HT và TĐ khoảng 600.000 ha, diện tích làm lúa 1 vụ/năm chủ yếu ven biển khoảng 100.000 ha và khoảng 1 triệu ha trồng 2 vụ lúa/năm với 2 vụ chính là ĐX và HT. Vụ ĐX xuống giống vào khoảng tháng 11 - 12 năm trước, thu hoạch vào tháng 3 - 4 năm sau. Đây là vụ lúa có năng suất và hiệu quả nhất bởi hội tụ được các điều kiện tự nhiên tối thích cho các quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Vụ HT tiếp theo vụ ĐX nhưng phải căn ke sao cho thời điểm thu hoạch lúa vụ này không quá 15/8, bởi sau thời điểm đấy rất dễ bị lụt. Bị bó hẹp trong khung thời vụ như thế nên so với vụ ĐX, lúa vụ HT có những bất lợi sau: - Phải xuống giống trong điều kiện nắng nóng xen kẽ với những cơn mưa đầu mùa nên rất dễ bị xì phèn. - Không có đủ thời gian để phơi đất, cày ải nên rất dễ bị nhiễm độc hữu cơ. - Cây sinh trưởng trong điều kiện mùa mưa, trời nhiều mây, lượng bức xạ kém, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm không cao nên năng suất lúa không cao. - Nắng nóng và mưa nhiều nên dễ thất thoát phân bón NHỮNG LƯU Ý KHI BÓN PHÂN VỤ HT Bởi có những bất lợi như trên nên so với lúa vụ ĐX, việc bón phân cho lúa vụ HT cũng những điểm khác biệt và lưu ý như sau: - Nhu cầu phân bón, nhất là phân đạm cho lúa vụ HT thấp hơn vụ ĐX. Thông thường để đạt năng suất từ 6,5 tấn/ha trở lên, lúa vụ ĐX ở ĐBSCL cần bón 90 - 100 kg N tương đương khoảng 195 - 215 kg urê thì lúa vụ HT chỉ cần bón 75 - 85 kg N tương đương khoảng 165 - 185 kg urê. - Cần bón nhiều phân lân hơn: Với lúa vụ ĐX chỉ cần bón 35 - 40 kg P2O5 tương đương khoảng 215 - 250 kg lân supe nhưng với lúa vụ HT phải bón nhiều lân hơn bởi đất dễ bị xì phèn khiến cho một lượng lân không nhỏ khi gặp các cation Al và Fe sẽ bị biến thành dạng khó tiêu. Lượng khuyến cáo là 40 - 50 kg P2O5 tương đương khoảng 250 - 315 kg lân supe, thậm chí trên đất phèn nặng phải bón tới 60 kg P2O5 tương đương khoảng 375 kg lân supe. - Lượng phân kali có thể giữ nguyên như lượng bón cho lúa vụ ĐX 40 - 45 kg K2O, tương đương 65 - 75 kg KCl. - Trên chân đất phèn nặng như Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên có thể phải bón thêm vôi với liều lượng khoảng 200 - 300 kg/ha. - Cần cảnh giác với việc bón thừa phân đạm: Do trời nóng, hạn nên nhiều khi bón phân đạm nhưng không thấy hiệu quả rõ rệt nên dễ lầm tưởng rằng bón ít nên bón bổ sung thêm. Hệ quả là dư đạm và cây sẽ bộc phát khi có mưa. ĐẦU TRÂU - PHÂN HIỆU QUẢ NHẤT VỤ HT Do các đặc điểm thời tiết và sinh lý cây trồng như đã nói ở trên giá thành lúa vụ HT thường cao. Để người nông dân có được lợi nhuận thì việc giảm chi phí, trong đó chi phí về phân bón là quan trọng bởi phân bón chiếm tới 30 - 35% tổng chi phí. Lấy ví dụ, với urê bình thường thì lượng sử dụng bình quân cho mỗi ha là khoảng 175 kg, nhưng nếu dùng phân đạm hạt vàng Đầu trâu 46A+ của Bình Điền thì chỉ cần 130 kg, giảm 35 kg. Giảm phân nhưng năng suất vẫn không giảm nhờ trong đạm hạt vàng 46A+ có hoạt chất Agrotain, chống được việc thất thoát đạm do bay hơi. Tương tự nếu dùng DAP thông thường thì cần khoảng 100 kg/ha nhưng nếu dùng Lân Đầu trâu 46P+ thì chỉ cần 75 kg bởi trong Lân Đầu trâu 46P+ có hoạt chất Avail ngăn cản quá trình tiếp xúc giữa các cation Al, FE với HPO4 nên việc cố định Lân bởi phèn đã không xảy ra. Agrotain Chứng nhận, phân bón và Avail đều là thành tựu nông hóa mới nhất của Mỹ được Bình Điền độc quyền nhập khẩu ở VN và Đông Nam Á. Những năm trước năm 2000, nông dân ĐBSCL ven sông Tiền, sông Hậu rất chuộng dùng phân NPK 16.16.8.13S của Philippines nhờ tính hiệu quả cao của nó. Tuy nhiên việc có hàm lượng lưu huỳnh cao trong phân đã tích lũy đáng kể lượng lưu huỳnh trong đất gây ngộ độc cho cây nên hiệu quả NPK16.16.8.13S giảm dần. Khắc phục tồn tại trên, Bình Điền có công nghệ sản xuất urê hóa lỏng, hàm lượng S trong phân giảm xuống chỉ còn dưới 5%. Tiếp thu nhanh thành tựu mới của kỹ nghệ nông hóa của các nước phát triển, Bình Điền đã SX cho ra sản phẩm phân chuyên dùng Lúa 1, Lúa 2 bón cho lúa HT rất có hiệu quả bởi ngoài Agrotain và Avail, còn sử dụng Penax, sản phẩm của Cộng hòa liên bang Đức khiến cho tính chống chịu của Lúa tốt hơn trong điều kiện thời tiết khó khăn. Công ty CP Phân bón Bình Điền đã tham gia tài trợ cho nhiều cánh đồng mẫu lớn suốt từ Bắc tới Nam. Chỉ riêng từ Bình Thuận trở vào, diện tích cánh đồng mẫu lớn do Bình Điền tài trợ đã lên tới 8.000 ha. Thực tiễn chỉ đạo kỹ thuật bón phân ở các mô hình cánh đồng mẫu lớn ở Tây Ninh, khu vực sông Vàm Cỏ giáp với Long An, các nhà nông và các kỹ sư Bình Điền rút ra kinh nghiệm, đối với những ruộng bị nhiễm phèn nặng thì trong 2 lần bón 1 và 2 nên giảm 3 kg phân chuyên dùng lúa 1 và thêm vào 3 kg Lân Đầu trâu 46P+ thì hiệu quả sẽ cao hơn. Sự tham gia của DMP đã tạo cho thị trường phân bón có nguồn cung ứng ổn định. CôngThương - Đó là thông tin được Chủ tịch Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí DPM Nguyễn Xuân Thắng cho biết tại Hội thảo Đánh giá hiệu quả đầu tư-vận hành và tiêu thụ sản phẩm Nhà máy đạm Phú Mỹ sau 5 năm hoạt động” tổ chức sáng nay 15/9 tại Hà Nội.Theo ông Thắng, sự tham gia của DPM đã tạo cho thị trường phân bón có nguồn cung ứng ổn định của hàng sản xuất trong nước với chất lượng đảm bảo, giá cả phù hợp, đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu mùa vụ cho bà con nông dân cả nước. Nhờ nguồn cung này, đất nước đã tiết kiệm được trên 1,3 tỷ USD nhập khẩu phân bón. Hiện DPM đã thiết lập được mạng lưới tiêu thụ trên hầu hết các địa phương trên toàn quốc, gồm 39 cửa hàng và 54 đại lý, cùng hơn 3.690 cửa hàng bán lẻ trên cả nước. Với cách thức tổ chức kinh doanh cùng mạng lưới phân phối này, mọi hoạt động kinh doanh của DPM đã được kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả và đạt được mục tiêu đưa sản phẩm đến gần nhất với nhu cầu tiêu thụ trực tiếp của nông dân. Phát biểu tại hội thảo, Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam Nguyễn Hạc Thúy cho biết, với vị thế là một tổng công ty lớn chiếm trên 40% thị phần phân đạm của cả nước, trong 5 năm hoạt động, DPM đã có vai trò quan trọng trong việc bình ổn thị trường phân bón, nhất là vào những vụ mùa giá phân bón thế giới tăng cao. Bên cạnh đó, DPM còn đẩy mạnh công tác kinh doanh nhập khẩu phân bón nhằm tăng năng lực cung ứng phân bón, triển khai các chính sách bán hàng phù hợp với từng thời điểm biến động của thị trường, góp phần bình ổn giá phân bón trong nước. Ghi nhận những nỗ lực của toàn thể cán bộ nhân viên DPM, Nhà nước đã tặng thưởng huân chương lao động cho DPM nhân kỷ niệm 5 năm Nhà máy đạm Phú Mỹ vận hành chính thức. Được biết, Nhà máy đạm Phú Mỹ có tổng vốn đầu tư xây dựng là 380 triệu USD từ nguồn vốn trong nước, là nhà máy hóa dầu đầu tiên của Việt Nam sản xuất phân đạm sử dụng công nghệ hiện đại trên thế giới với công suất thiết kế 740.000 tấn urê/năm. Với thành công trong sản xuất và vận hành Nhà máy đạm Phú Mỹ, hiện DPM đang chuẩn bị các nguồn lực để tham gia quản lý, vận hành và phân phối sản phẩm của dự án Nhà máy đạm Cà Mau với công suất 800.000 tấn/năm. Kim Liên Sự tham gia của DMP đã tạo cho thị trường phân bón có nguồn cung ứng ổn định. CÔNG TY CP PHÂN LÂN NUNG CHẢY VĂN ĐIỂN - Đơn vị đạt 4 danh hiệu Anh hùng - Giải thưởng tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO - DN Phân bón duy nhất đạt TOPTEN Thương hiệu Việt 2011 - TOPTEN Sản phẩm vàng Việt Nam 2012 - Địa chỉ: Đường Phan Trọng Tuệ, huyện Thanh Trì, Hà Nội - Điện thoại: 043.688.4489 - Fax: 043.688.4277 - Website: vafco.vn. Để bảo đảm đủ phân bón cho vụ hè thu và có sản phẩm gối đầu cho vụ mùa ở miền Bắc, các doanh nghiệp phân bón vẫn phải duy trì và đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất phân đạm u-rê; đồng thời tiếp tục tham gia cùng Chính phủ thực hiện tốt chính sách kích cầu đầu tư, tiêu dùng, duy trì mức tăng trưởng kinh tế; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hướng tới xuất khẩu phân bón sang các thị trường tiềm năng trong khu vực ASEAN và châu Á như Lào, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Hàn Quốc, Nhật Bản…Mai Linh .


Nông dân Hà Nam trúng lớn vụ đông 2013 nhờ bón phân Văn Điển. Phù hợp với cây trồng Huyện Lý Nhân là một điển hình như vậy, kế hoạch vụ đông năm nay tổng diện tích gieo trồng của huyện: 5.070ha, trong đó: Ngô 1.800ha, đậu tương 900ha, bí xanh, bí đỏ 1.070ha, khoai lang 160ha, rau các loại 1.140ha. Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Trạm trưởng Trạm Khuyến nông huyện Lý Nhân cho biết: Trong cơ chế thị trường hiện nay có nhiều loại phân bón nhưng nông dân Lý Nhân vẫn ưa chuộng phân bón NPK Văn Điển vì phân có thành phần dinh dưỡng cao nên cây trồng sử dụng được hầu hết. Các cây trồng chính của vụ đông chủ yếu trồng ở đất trong đồng, chân đất cấy 2 vụ lúa, đất chua nên bón phân Văn Điển phù hợp vì trong phân ngoài có đủ các chất dinh dưỡng khác còn có vôi có tác dụng cải tạo đất”. Cùng đồng tình với nhận xét về phân bón Văn Điển, ông Nguyễn Văn Tốn - Chủ nhiệm HTX Nguyên Lý, huyện Lý Nhân cho biết: Phân NPK Văn Điển bón cho đậu tương lá dày màu xanh sáng, quả chín vàng đẹp, độ mẩy cao. Các loại cây khác bón phân NPK Văn Điển đều tốt vì không phải bón nhiều lần, cây trồng sinh trưởng phát triển thuận lợi như: Ngô đỡ bệnh chân chì huyết dụ, rễ chân kiềng nhiều tăng khả năng chống đổ, lá xanh bền đến lúc chín, bắp to và đẫy hạt. Bí xanh, bí đỏ dây ngọn mập, lá xanh khỏe, quả sai, da mỡ và chắc quả”. Đậu tương dùng lân Văn Điển bón 1 sào: 20-25kg như bà con nông dân vẫn thường làm. Tốt nhất là chuyển sang bón phân đa yếu tố NPK Văn Điển: 4.12.7 chuyên dùng cho đậu, lạc loại trộn 3 hạt. Đối với đậu tương trên đất màu: Làm đất, đánh rạch sâu, rải phân chuồng và 25-30 kg/sào phân NPK 4.12.7 xuống rãnh, vùi đất, lấp đất kín phân sau đó mới tra hạt đậu lên trên. Đối với đậu tương trên đất 2 lúa sau khi gieo hạt xong dùng 15-20kg phân NPK 4.12.7 trộn đều với 1-2 thúng đất bột, rải đều trên mặt ruộng rồi lồng giập rạ. Đối với ngô: Bón lót bằng phân NPK Văn Điển 5.10.3 dạng ve viên, 18-20 kg/sào. Cuốc hoặc đánh rãnh, lấp đất dày 4-5cm kín phân sau tra hạt hoặc đặt bầu. HTX Xuân Khê, huyện Lý Nhân kế hoạch vụ đông 2014 gieo trồng 150ha, đậu tương 30ha, ngô 40ha, bí xanh, bí đỏ 10ha, khoai tây 10ha, rau các loại 60ha. Các cây trồng trên chủ yếu bón phân NPK Văn Điển. Cây phát triển tốt Bón phân NPK Văn Điển rất hiệu quả như lời nhận xét của ông Chủ nhiệm Trương Đình Sự: Phân NPK Văn Điển bón cho cây trồng tuy lên chậm nhưng tốt bền. Phân Văn Điển giúp cho cây ngô lá màu xanh sáng, lá xanh từ gốc tới ngọn, bắp to ít bắp đuôi chuột, màu hạt đẹp và xay xát đạt tỷ lệ bột cao. Khoai tây bón phân Văn Điển ngọn to khỏe mập, bộ lá bền đến lúc thu hoạch, sai và đều củ, củ chắc vỏ bóng, tỷ lệ nước trong củ thấp nên dễ bảo quản. Bắp cải được bón phân Văn Điển: Lá dày, màu xanh sáng, cuốn chặt hơn, su hào củ chóng lớn, da bóng đẹp và đỡ nứt củ. Các loại rau cải được bón phân Văn Điển cây mọc chậm nhưng khỏe mạnh. Phân Văn Điển dùng cho rau hạn chế được sâu bệnh nên giảm được số lần phun thuốc”. Phân bón cho khoai tây có 2 loại phân bón thúc và phân bón lót: Phân lót NPK Văn Điển: 9.9.12, bón 1 sào 20-25kg, bón vào đáy hốc, phủ kín đất rồi đặt củ. Loại phân bón thúc NPK Văn Điển: 22.5.11, bón 8-12 kg/sào sau trồng 25-30 ngày, bón dọc theo hàng khoai, xới đất vun vào gốc khoai. Loại phân bón cho rau phân NPK Văn Điển: 5.10.3, mức bón 20-40 kg/sào tùy theo loại rau và năng suất. Chỉ dùng bón lót, rải phân lấp kín đất rồi tra hạt hoặc trồng cây giống. Huyện Bình Lục còn có nhiều đất chua trũng hơn huyện Lý Nhân nên lựa chọn phân Văn Điển bón cho các loại cây trồng rất phù hợp kể cả cây vụ đông. Bà Lê Thúy An -Trạm trưởng Trạm Khuyến nông Bình Lục: Vụ đông năm nay diện tích kế hoạch của huyện 2.500ha: Ngô 700ha, đậu tương 680ha, khoai lang 150ha, khoai tây 310ha, rau các loại 660ha. Phân NPK Văn Điển có tính kiềm phù hợp với đất chua nên ngoài ý nghĩa về thâm canh còn có tác dụng cải tạo đất. Các cây vụ đông bón phân NPK Văn Điển đều sinh trưởng phát triển tốt, hạn chế sâu bệnh, tăng năng suất và chất lượng, đặc biệt đối với cây ngô và cây đậu tương trồng trên đất lúa sẽ hạn chế bệnh nghẹt rễ, tăng khả năng chịu úng”. Giống lúa Bón lót Bón thúc đẻ nhánh Lúa thuần 200-300kg phân chuồng + 20-25kg phân ĐYT NPK 6.11.2 dạng trộn 3 hạt hoặc 20- 25 kg phân ĐYT NPK 5.10.3 dạng vê viên 10 - 12 kg phân ĐYT NPK 16.5.17 dạng trộn 3 hạt Lúa lai 200-300kg phân chuồng + 20-25kg phân ĐYT NPK 6.11.2 dạng trộn 3 hạt hoặc 20- 25 kg phân ĐYT NPK 5.10.3 dạng vê viên 12 - 15 kg phân ĐYT NPK 16.5.17 dạng trộn 3 hạt. PVFCCo cung cấp các mặt hàng phân bón mang thương hiệu Phú Mỹ: NPK Phú Mỹ, Kali Phú Mỹ, DAP Phú Mỹ..., góp phần ổn định nguồn cung phân bón trong nước. CôngThương - Nguồn cung trong nước tạm ổn Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm 2014, nhu cầu phân bón cho sản xuất nông nghiệp nước ta cần gần 11 triệu tấn phân bón các loại. Trong đó, nhu cầu phân urê 2,2 triệu tấn, phân SA 900 ngàn tấn, phân kali 960 ngàn tấn, phân DAP 900 ngàn tấn, phân NPK 4 triệu tấn và phân lân 1,8 triệu tấn. Hiện nay, sản xuất trong nước đã tạm thời đáp ứng nhu cầu. Cụ thể, phân lân chế biến đạt 1,8 triệu tấn. Phân đạm urê hiện đang ở trong tình trạng dư thừa vì tổng công suất của 4 nhà máy trong nước lên tới 2,4 triệu tấn. Phân SA, Kali vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn do trong nước chưa sản xuất được. Với phân DAP, hiện đã có nhà máy DAP Đình Vũ công suất 330 ngàn tấn/năm, đáp ứng được 1/3 nhu cầu trong nước. Hiện ập đoàn Hóa chất Việt Nam Vinachem đang xây dựng nhà máy DAP số 2 tại Lào Cai có công suất tương tự. Dự kiến nếu đi vào hoạt động vào năm 2015 sẽ đáp ứng được 2/3 nhu cầu DAP trong nước. Với phân NPK, trong nước gần như đã chủ động được với rất nhiều DN sản xuất với đủ chủng loại, hàm lượng, tổng công suất đạt 3,8 triệu tấn/năm. Mỗi năm, Việt Nam nhập khoảng 400.000-500.000 tấn, chủ yếu là nhập NPK có hàm lượng dinh dưỡng, chất lượng cao. Sơ bộ cho thấy hiện tại nước ta vẫn phải nhập Kali, SA, DAP, NPK hàm lượng cao đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp trong nước. Tuy nhiên, dự kiến trong vài năm tới, trong nước dần dần sẽ tiến tới chủ động được gần như toàn bộ nguồn cung phân bón. Đơn cử, Vinachem đã đầu tư xây dựng công trình khai thác và chế biến muối mỏ để sản xuất phân Kali tại huyện Nongbok, tỉnh Khammouan Trung Lào trị giá 450 triệu USD, với công suất dự kiến 320.000 tấn/năm và đến năm 2020 dự kiến đạt 1 triệu tấn/năm. Với phân SA, nhiều DN trong nước cũng sẽ bắt tay vào đầu tư như Supe Lâm Thao. Với DAP, Vinachem cũng đang nỗ lực đẩy nhanh tiến độ nhà máy DAP số 2, phấn đấu đến năm 2015 cho ra đời sản phẩm. Với NPK chất lượng cao, Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí PVFCCo cũng đang xúc tiến triển khai dự án sản xuất NPK một hạt chất lượng cao công suất 250.000 tấn/năm trong năm 2015 và dự kiến cho ra đời sản phẩm vào năm 2017. Doanh nghiệp uy tín đảm bảo nguồn cung Tuy nguồn cung phân bón trong nước đã tạm thời ổn định, nhưng những câu chuyện đáng ngại gần đây về nạn phân bón kém chất lượng, nhất là phân bón nhập khẩu qua đường tiểu ngạch cũng làm bà con nông dân hoang mang. Thực tế, nhiều loại phân bón nhập khẩu cũng hay bị làm nhái, hơn nữa, do nhập khẩu từ nhiều nguồn nên chất lượng và giá bán cũng khác nhau. Vấn đề đặt ra là muốn quản lý từ gốc thì phải từ chính các nguồn nhập khẩu, bao gồm: Chọn lựa nguồn hàng uy tín để nhập, đảm bảo sự ổn định trong cung cấp hàng, kịp thời cho mùa vụ, lô hàng lớn để giảm chi phí…nhất là đơn vị nhập khẩu phải là đơn vị có uy tín để đảm bảo, chịu trách nhiệm cho sản phẩm nhập khẩu của mình. Những năm vừa qua, không chỉ được biết đến như một nhà sản xuất urê lớn nhất cả nước với thương hiệu Đạm Phú Mỹ, Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí PVFCCo còn là nhà cung cấp các mặt hàng phân bón mang thương hiệu Phú Mỹ, góp phần vào ổn định nguồn cung phân bón trong nước: NPK Phú Mỹ, Kali Phú Mỹ, DAP Phú Mỹ... Những sản phẩm này được PVFCCo đảm bảo về nguồn gốc, chất lượng và giúp cho nông dân có được bộ sản phẩm hoàn chỉnh, đáp ứng đồng bộ nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng và điều quan trọng hơn, giúp nông dân có được nguồn sản phẩm đáng tin cậy, giảm bớt nỗi lo hàng giả, hàng kém chất lượng. Với hệ thống đại lý, kho trung chuyển rộng khắp toàn quốc và chính sách bán hàng ngày càng được cải tiến, tuân thủ nghiêm ngặt quy định siết” tải trọng xe bằng nỗ lực sử dụng các hệ thống vận chuyển đường sắt, đường thủy…, bộ sản phẩm phân bón chất lượng cao thương hiệu Phú Mỹ do PVFCCo cung cấp đảm bảo kịp thời đến với bà con nông dân bằng giá cả hợp lý, góp phần đẩy lùi nạn phân bón giả, phân bón kém chất lượng vốn đang nhức nhối hiện nay. Nguyễn Duyên-Kim Liên PVFCCo cung cấp các mặt hàng phân bón mang thương hiệu Phú Mỹ: NPK Phú Mỹ, Kali Phú Mỹ, DAP Phú Mỹ..., góp phần ổn định nguồn cung phân bón trong nước. PHẢN HỒI. Phân bón DAP NK từ Trung Quốc qua đường tiểu ngạch. Ảnh: PHAN THU Thừa vẫn nhập Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, 5 tháng đầu năm, NK phân bón giảm mạnh cả lượng và giá trị. Cụ thể, ước tính khối lượng NK phân bón các loại trong tháng 5 đạt 159 nghìn tấn với giá trị 43 triệu USD, đưa khối lượng NK phân bón 5 tháng đầu năm đạt gần 1,31 triệu tấn, kim ngạch NK đạt 405 triệu USD, giảm 14,9% về lượng và giảm 35,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, khối lượng NK phân urê ước đạt 27 nghìn tấn với giá trị 8,9 triệu USD, giảm 71,7% về lượng và giảm 75,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013; phân SA ước đạt 396 nghìn tấn với giá trị NK 55 triệu USD, giảm 1,8% về lượng nhưng giảm tới 32,9% về giá trị. Nguồn phân bón NK chủ yếu từ Trung Quốc, chiếm tới 45,3% tổng kim ngạch NK. Phát biểu tại hội thảo quốc gia thực hiện Nghị định 202/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón và chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững mới đây, ông Nguyễn Gia Tường, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam Vinachem cho biết: Hiện nay, sản xuất trong nước đã đáp ứng được 100% nhu cầu về phân ure, phân lân chế biến, phân NPK, thậm chí nhiều DN còn có số lượng tồn kho lớn kéo dài từ năm này qua năm khác. Đối với riêng Vinachem, tập đoàn đã sản xuất được khoảng 5 triệu tấn phân bón/năm, đáp ứng cơ bản nhu cầu phân bón có chất lượng tốt cho sản xuất nông nghiệp trong nước. Trong đó, đáp ứng 100% nhu cầu phân lân chế biến với sản lượng xấp xỉ 2 triệu tấn/năm, đáp ứng 50% nhu cầu phân urê với sản lượng 1,15 triệu tấn/năm và đáp ứng 60% nhu cầu phân DAP với sản lượng 660 nghìn tấn/năm và trên 2 triệu tấn phân NPK. Theo ông Nguyễn Gia Tường, mặc dù kim ngạch NK phân bón đã giảm, song các DN trong nước vẫn chịu tác động rất lớn và khó cạnh tranh với phân bón NK, đặc biệt là phân bón NK từ Trung Quốc. Đó là do hiện tại, phân bón chủ yếu được NK từ Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Hình thức NK này rất khó kiểm soát về chất lượng về thuế nên dễ xảy ra tình trạng gian lận thương mại, trà trộn phân chất lượng thấp, gây ra cạnh tranh không bình đẳng với phân sản xuất trong nước. Tìm đường XK Ông Nguyễn Gia Tường cho biết, để tháo gỡ khó khăn cho ngành phân bón, Vinachem kiến nghị tạm dừng hoạt động NK phân bón biên mậu; tăng thuế suất thuế NK phân urê, DAP, NPK lên mức cao nhất theo các cam kết thương mại ký giữa Việt Nam và các nước; tăng cường các biện pháp quản lý thị trường phân bón trong nước, đặc biệt đối với phân bón NK. Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo các lợi ích của nông dân khi thực hiện chính sách hạn chế NK phân bón, yêu cầu các đơn vị sản xuất phân urê, DAP, NPK phải đăng ký giá bán với cơ quan quản lý giá theo quy định để theo dõi, giám sát. Mong muốn tự tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ phân bón, vài năm gần đây, một số DN trong ngành cũng đã chủ động tìm đường XK. Điển hình như Công ty TNHH MTV Phân bón dầu khí chung nhan, phan bon Cà Mau PVCFC đặt kế hoạch năm 2014 sẽ XK khoảng 100.000 tấn phân bón sang Campuchia, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Hàn Quốc... Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí PVFCCo cũng đã tiến hành xúc tiến thương mại nhiều năm qua và đến nay đã thành lập được các chi nhánh, văn phòng đại diện tại Campuchia, Myanmar. Với thị trường Myanmar, năm 2014, PVFCCo đặt mục tiêu sẽ XK với số lượng lớn bởi tổng lượng cầu đối với urê của Myanmar vào khoảng 1,5 triệu tấn/năm và sẽ còn tăng trong những năm tới. Nhiều chuyên gia khuyến cáo, XK phân bón là một hướng mở cho các DN sản xuất trong nước. Tuy nhiên, thị trường XK phân bón của Việt Nam cũng đang chịu sự cạnh tranh khốc liệt với các sản phẩm phân bón của các nước trong khu vực và thế giới. Bởi vậy, mỗi DN sản xuất phân bón cần chủ động đầu tư cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng, giảm giá thành để tăng sức cạnh tranh, có chiến lược xây dựng thương hiệu. Bên cạnh đó, các DN cũng phải tăng cường hợp tác, liên kết với nhau, tạo ra sự đoàn kết, đồng bộ, nhằm đảm bảo được lợi ích cộng đồng DN cả ở thị trường trong nước cũng như XK.. Tháng 4, giá một số loại phân bón tăng do ảnh hưởng của cước phí vận tải. Hiện giá bán lẻ phân bón phổ biến ở mức: Ure 8.000-8.500 đồng/kg; kali 10.000-10.800 đồng/kg; DAP 14.000 - 15.300 đồng/kg; NPK từ 11.000-12.000 đồng/kg... Hải Quỳnh. Xứng đáng là vai trò đầu tàu của ngành phân bón ° Ông có thể nói ngắn gọn về tính hiệu quả của Nhà máy Đạm Phú Mỹ kể từ khi được đưa vào vận hành sản xuất đến nay? - Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng: Tháng 9-2004, sau một thời gian ngắn chạy thử, Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã chính thức được bàn giao cho PVFCCo quản lý, vận hành và kinh doanh sản phẩm, với sản lượng đạt 740.000 tấn/năm, xác lập vai trò là một doanh nghiệp quy mô hàng đầu trong sản xuất, kinh doanh phân bón. Sự tham gia thị trường của PVFCCo đã thổi vào ngành phân bón một luồng gió mới, với tác động tích cực và đem lại sự thay đổi, đáp ứng những kỳ vọng của Chính phủ khi phê duyệt dự án. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử thị trường phân đạm, nguồn cung ứng đã có sự tham gia của hàng sản xuất trong nước với một tỷ lệ thị phần cao, chất lượng đảm bảo và giá cả phù hợp. Trong giai đoạn 2005-2010, các hoạt động sản xuất, kinh doanh của PVFCCo đã được triển khai và gặt hái được những kết quả rất tốt. Năm 2005, 2006 đạt sản lượng 80%-90% theo thiết kế, đặc biệt trong 3 năm 2007-2009 đã sản xuất hơn 750.000 tấn urê, vượt sản lượng thiết kế/năm đồng thời thực hiện công tác nhập khẩu phân bón. Năm 2010, dự kiến sản lượng sản xuất và cung ứng cũng sẽ đạt từ 750.000 đến 1 triệu tấn. Về mặt thị trường, mạng lưới các đại lý và cửa hàng bán lẻ do các đơn vị thành viên của PVFCCo phát triển đã đạt con số trên 2.000 cửa hàng trên khắp các vùng miền trên cả nước. Tham gia vào khâu phân phối sâu rộng, PVFCCo hướng tới mục tiêu gia tăng chuỗi giá trị và phục vụ bà con nông dân một cách hiệu quả nhất.° Xin ông nói rõ hơn về vai trò của PVFCCo trong quá trình bình ổn thị trường phân bón?-Trong nửa đầu năm 2008, trước tình hình giá cả thị trường bất ổn, liên tục tăng cao, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và PVFCCo đã có những chỉ đạo để PVFCCo thể hiện vai trò của mình mạnh hơn nữa trong chương trình hành động kiềm chế lạm phát và bình ổn thị trường với những mục tiêu cụ thể: Tổ chức sản xuất an toàn và đạt tối đa sản lượng phân đạm, đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu phân bón, tăng tổng nguồn cung ứng phân bón của PVFCCo lên trên 1 triệu tấn/năm, tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm sản xuất và nhập khẩu hợp lý, hiệu quả nhằm đưa sản phẩm đến các cửa hàng và bán cho bà con nông dân với giá niêm yết, thấp hơn giá nhập khẩu từ thị trường thế giới, nhằm hạn chế tình trạng mua bán qua nhiều tầng nấc trung gian. Năm 2008 PVFCCo đã đưa ra thị trường trong nước 741.000 tấn urê DPM và gần 200.000 tấn phân bón nhập khẩu. Tại các thời điểm giá cả tăng cao, nguồn cung DPM do PVFCCo sản xuất và lượng hàng nhập khẩu thường trực nhập về tại các kho luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu, đã giúp kiềm chế đà tăng giá bán phân bón trong nước, cụ thể là có thời điểm giá urê thị trường thế giới lên tới 13.000-14.000 đồng/kg thì giá bán DPM thấp hơn tới gần 40%. Mức giá bán công bố của PVFCCo đã bao gồm chi phí vận chuyển, bảo hiểm và chiết khấu cho các đại lý, cửa hàng. Đánh giá về tác dụng bình ổn giá của DPM, PVFCCo đã thống kê, theo dõi diễn biến thị trường từ cuối năm 2007 đến thời điểm sốt giá phân bón năm 2008 và thấy rằng giá bán của DPM có tăng theo xu thế chung của thị trường nhưng mức tăng giá thấp hơn mức tăng giá của urê nhập khẩu và nhiều loại phân bón khác. Nếu tính từ thời điểm xa hơn từ đầu năm 2007, thì mức tăng giá của DPM là thấp nhất trong thị trường phân bón. Điều đó cho thấy sự tham gia của DPM đã góp phần tích cực cho thị trường. Tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trên thị trường phân bón.° Theo ông nhu cầu về phân bón trong giai đoạn 2010-2020 sẽ như thế nào? Và khả năng đáp ứng của PVFCCo ra sao?- Chính phủ và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã quyết tâm đầu tư dự án bằng nội lực với mục tiêu và tầm nhìn chiến lược là đảm bảo an ninh lương thực về dài hạn cho đất nước. Phát huy thành quả từ dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ, ngành dầu khí Việt Nam tiếp tục đầu tư xây dựng Nhà máy Đạm Cà Mau với công suất tương đương, dự kiến đi vào sản xuất từ quý 1 năm 2012. Công tác quản lý, vận hành và kinh doanh phân phối sản phẩm của Nhà máy Đạm Cà Mau sẽ được giao cho PVFCCo đảm trách, với mục tiêu là sản phẩm phân đạm, một trong các sản phẩm chính của ngành dầu khí cung cấp cho đất nước, được cung ứng bởi hệ thống thống nhất của PVFCCo. Theo dự kiến, năm 2012, dự án Nhà máy Đạm Cà Mau đi vào sản xuất. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã có chủ trương giao cho PVFCCo quản lý, vận hành và tổ chức kinh doanh, phân phối sản phẩm của nhà máy. Như vậy, đối với thị trường trong nước, PVFCCo tiếp tục khẳng định vai trò của nhà sản xuất và cung ứng phân đạm lớn nhất: 1.600.000 tấn ure/năm, có khả năng đáp ứng tới 80% nhu cầu thị trường trong nước. Năm 2013, dự kiến nhà máy sản xuất phân NPK chất lượng cao của PVFCCo cũng sẽ hoàn thành với khả năng cung ứng 400.000 tấn/năm, đáp ứng 15% nhu cầu thị trường.° Như vậy trong vòng 10 năm tới, PVFCCo sẽ tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trên thị trường phân bón?-Với năng lực sản xuất như trên, rõ ràng là vai trò của PVFCCo đối với nông nghiệp tiếp tục được phát huy và khẳng định. Nếu như trong giai đoạn 2005-2010, sản phẩm đạm Phú Mỹ thể hiện vai trò của nhân tố mới trong thị trường, thì giai đoạn này, PVFCCo đóng vai trò của đơn vị sản xuất nòng cốt trong hoàn cảnh có nhiều nhà sản xuất phân đạm trong nước cùng với sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất của PVFCCo trong giai đoạn vừa qua đã khẳng định năng lực của PVFCCo trong việc tổ chức vận hành 2 nhà máy đạm lớn có quy mô và công nghệ tương đương sẽ được đảm bảo. Khả năng sản xuất và cung ứng 1,6 triệu tấn đạm mỗi năm là điều gần như chắc chắn.PVFCCo sẽ cung cấp phân đạm với 2 dòng sản phẩm: ure hạt trong prill của Nhà máy Đạm Phú Mỹ và sản phẩm chứng nhận, phân bón ure hạt đục granular của Nhà máy Đạm Cà Mau, chất lượng đạt các tiêu chuẩn sản phẩm của các nhà máy đạm công nghệ hàng đầu trên thế giới từ nguồn nguyên liệu khí thiên nhiên. Về giá cả, đạm Phú Mỹ và đạm Cà Mau được sự bảo đảm nguồn nguyên liệu là khí thiên nhiên từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với giá cả hợp lý, quản lý sản xuất hiệu quả, sẽ đảm bảo duy trì giá thành sản xuất ở mức độ cạnh tranh trước sản phẩm nhập khẩu.Vai trò của PVFCCo đối với nền nông nghiệp đất nước, chính là biểu hiện điển hình cho mục tiêu thực hiện chính sách đưa sản phẩm công nghiệp từ nguồn nguyên liệu của ngành dầu khí để sản xuất phân bón phục vụ nền nông nghiệp, tăng cường mối liên kết và làm cầu nối liên minh công nông, thực hiện chính sách tam nông của Đảng và Nhà nước. PVFCCo tiếp tục khẳng định vai trò trên trong chiến lược phát triển của mình trong thời gian tới, với những thế mạnh trong khâu sản xuất, khâu phân phối. Thủy Mai. Theo đó, mỗi năm JVF sẽ cung cấp cho PVFCCo 30.000-40.000 tấn phân bón NPK chất lượng cao của chính hãng. Phía PVFCCo sẽ cung cấp cho Sojitz 200.000-300.000 tấn urê/năm để xuất khẩu sang Thái Lan, Philippines và các nước khác sau khi đã ưu tiên tiêu thụ đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước. Hai bên dự kiến sẽ ký tiếp hợp đồng dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, theo đó JVF sẽ hỗ trợ PVFCCo trong công tác vận hành, bảo trì nhà máy NPK do PVFCCo đầu tư xây dựng. Nhằm mục đích này, JVF sẽ thu hút sự tham gia của Công ty Central Glass Co., Ltd một công ty hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất NPK của Nhật Bản. Khi thỏa thuận hợp tác này đi vào hiện thực, PVFCCo sẽ có điều kiện mở rộng danh mục sản phẩm của mình bên cạnh sản phẩm truyền thống là phân urê, đồng thời có cơ hội chuẩn bị thị trường cho sản phẩm của nhà máy NPK. Thông qua hợp tác với PVFCCo, Sojitz và JVF hy vọng có thêm nguồn cung urê chất lượng cao để mở rộng thị trường trong và ngoài nước./. Hà Huy Hiệp TTXVN/Vietnam+. Bộ Công Thương cho biết mỗi năm Việt Nam cần khoảng 10 triệu tấn phân bón các loại cả vô cơ và hữu cơ, hiện nguồn sản xuất trong nước đáp ứng được khoảng 80%, còn lại phải nhập khẩu 20% và nguồn nhập khẩu chính vẫn từ Trung Quốc. 6 tháng đầu năm 2013, qua kiểm tra các doanh nghiệp phía Nam, Cục Quản lý thị trường đã phát hiện có doanh nghiệp trộn cả bột đá, đất sét, cao lanh vào để làm phân bón khiến hàm lượng chất dinh dưỡng kém, không đủ tiêu chuẩn cho cây trồng. Đáng buồn hơn, còn có cả thành viên trong Hiệp hội phân bón Việt Nam cũng có dấu hiệu vi phạm.

.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét